Mùa khô năm nay, máy bơm đặt cạn bên hiên nhà vẫn ù ù chạy nhưng vòi chỉ khục khặc vài tiếng rồi khô. Mồi nước đầy thì được ít phút, rồi lại mất. Giếng nhà vẫn sâu như cũ, còn mặt nước thì tụt xa hơn năm ngoái. Câu hỏi lúc đó là máy bơm hút giếng sâu này còn cứu được không, hay đã tới lúc thả bơm chìm xuống.
Trả lời ngắn: máy đặt trên miệng giếng có trần hút. Catalog Aquaris ghi dòng CM tối đa 7 m, dòng MHI (Aquaris, Perotac) ghi 8 m. Khi điều kiện hút vượt giới hạn của CM/MHI đang xét, cần chọn phương án khác. Bơm chìm SA hoặc SP là phương án cần đối chiếu với lòng giếng và điểm Q–H yêu cầu.
Máy bơm hút giếng sâu hút được tới đâu: con số trên catalog
Máy đặt cạn không "kéo" nước lên. Nó làm giảm áp ở cửa hút, rồi áp khí quyển đè lên mặt nước giếng đẩy nước vào ống hút. Áp khí quyển chỉ nâng nổi cột nước cao khoảng 10,33 m ở điều kiện chuẩn. Đó là trần lý thuyết, còn máy thật thấp hơn.
Catalog của hai hãng ghi giới hạn hút cho một số dòng đặt cạn trục ngang:
| Dòng máy đặt cạn | Catalog ghi | Nguồn |
|---|---|---|
| Aquaris CM (trang CM 32, các mã 1,5 đến 9,2 kW) | Max. suction lift: 7 metres | Aquaris CM, trang 2/12 |
| Aquaris MHI | Max. suction lift: 8 m | Aquaris MHI, trang 1/3 |
| Perotac MHI | Max. suction lift: 8 m | Perotac MHI, trang 1/3 |
Hai điều rút ra từ bảng này:
- Công suất lớn không nâng trần hút. Trên trang CM 32, các mã từ 1,5 kW tới 9,2 kW cùng chung một dòng ghi 7 m. Thay máy cạn bằng máy khỏe hơn để "hút sâu hơn" có thể tốn tiền mà không hút thêm được mét nào.
- Con số catalog là trần, đừng đặt sát. Catalog không giải thích điều kiện đo. Khi lắp thật, ống hút dài, co cút và rọ hút còn ăn thêm vào phần đó. Dòng máy nào catalog không ghi giới hạn hút thì hỏi bên bán bằng văn bản, đừng mượn con số của dòng khác.
Giếng sâu hay nước tụt sâu: đo mực nước động trước
Nhiều nhà nghe thợ nói "giếng 60 mét" là kết luận phải thả chìm. Máy hút không quan tâm đáy giếng. Nó chỉ quan tâm khoảng cách từ mặt nước tới máy. Giếng khoan sâu 60 m mà lúc bơm chạy mặt nước vẫn cách miệng giếng vài mét thì máy đặt cạn có thể còn trong tầm, nhưng phải trừ hao cho ống hút. Ngược lại, giếng 20 m mà mùa khô mặt nước tụt xa vẫn có thể vượt trần.
Hai mốc cần biết:
- Mực nước tĩnh: mặt nước khi giếng nghỉ đủ lâu, chưa bơm.
- Mực nước động: mặt nước trong lúc bơm đang chạy. Mực này thấp hơn mực tĩnh và là con số quyết định máy hút còn hút nổi hay không.
Nhờ thợ giếng đo mực nước tĩnh và mực nước động bằng thiết bị phù hợp, ghi rõ thời điểm đo và lưu lượng đang bơm. Cần đối chiếu cả thời điểm nước xuống thấp; không dùng riêng độ sâu khoan để thay cho số đo này.
Khoảng cách từ máy tới mặt nước lúc bơm chạy mùa khô, cộng phần hao ở ống hút, phải còn nằm trong trần catalog của dòng máy bạn đang xét, chứ không phải vừa sát trần. Chuyện đặt cảm biến theo mực nước động đã có ở bài bơm giếng khoan sâu lắp cảm biến.
Máy hút đã bó tay chưa: dấu hiệu và lỗi nhẹ hơn cần loại trước
Máy chạy mà nước không lên chưa chắc do giếng quá sâu. Có mấy lỗi rẻ hơn nhiều cần kiểm trước khi bỏ máy.
| Dấu hiệu | Có thể là | Kiểm trước khi quyết đổi |
|---|---|---|
| Mùa mưa ổn, mùa khô nước yếu rồi mất | Mặt nước tụt vượt trần hút | Đo mực nước động mùa khô |
| Phải mồi liên tục, mồi xong chạy vài phút lại mất | Ống hút lọt khí, khớp nối lỏng, van chân (rọ hút) hở | Nhờ đơn vị lắp đặt kiểm độ kín và van chân theo hướng dẫn đúng mã |
| Máy ù, vòi phì khí, không ra nước | Hút hụt: mất mồi hoặc mặt nước quá xa | Kiểm ống hút kín, rồi so mực nước động với trần catalog |
| Nước yếu dần sau vài phút bơm | Mực nước động tụt khi bơm kéo | So mực tĩnh với mực động |
| Máy 3 pha chạy mà nước yếu | Quay ngược chiều | Nhờ thợ điện kiểm thứ tự pha |
Nếu đơn vị lắp đặt đã kiểm các điều kiện hút của CM/MHI và số đo vẫn vượt giới hạn của dòng đang xét, cần đối chiếu phương án khác. Đừng cho máy chạy khô để thử, vì phớt máy dễ hỏng. Sự cố ở phía bơm chìm đã đặt sẵn thì xem bài bơm giếng khoan không lên nước.
Thả chìm thì SA hay SP: catalog ghi gì
Bơm chìm giếng khoan là loại thân dài, nhiều tầng cánh, nằm ngập dưới mặt nước nên không phải kéo nước từ xa như máy đặt cạn. Bài bơm giếng khoan là gì đã nói kỹ phần cấu tạo và so bơm cạn với bơm chìm. Ở đây chỉ ghi những gì hai catalog nói về dòng SA và SP, vì đó là những thứ cần đối chiếu với giếng của bạn.
Perotac SA (catalog SA SERIES, trang 1/19 và trang 4SA3 là 7/19):
- Giếng từ 2 inch tới 6 inch tùy dòng; dòng 4SA ghi giếng tối thiểu 4 inch.
- Nước tối đa +35 °C, hàm lượng cát tối đa 0,25%.
- Điện 1 pha 220–240 V hoặc 3 pha 380–415 V, đi kèm hộp khởi động hoặc hộp điều khiển tự động.
- Trang 4SA3 ghi vỏ ngoài bơm và trục là AISI 304 SS, còn cánh bơm và bộ chia dòng (diffuser) bằng nhựa POM và PC. Đừng gọi cả bơm là "inox" khi catalog chia bộ phận như vậy.
Aquaris SP (catalog SP SERIES, trang 2/42 và trang 4SP3 là 3/42):
- Dòng này được catalog gọi là bơm chìm inox, dùng cho giếng từ 4 inch tới 10 inch.
- Loạt 4 và 5 inch: đường kính giếng 100 hoặc 130 mm, đường kính bơm tối đa Ø95 hoặc Ø125 mm, nước tới 35 °C.
- Loạt 6 đến 10 inch: nước tới +50 °C, cát tối đa 0,25%. Mục loạt 4 và 5 inch không ghi hàm lượng cát nên hỏi bên bán.
- Trang 4SP3 (3/42) không có bảng vật liệu từng bộ phận, nên phần này chưa có thông tin vật liệu cánh hay vỏ của loạt 4 inch.
Điểm chung cần nhớ: cả hai catalog đều ghi nhiệt độ nước tối đa, còn giới hạn cát thì SA và SP loạt 6 đến 10 inch có ghi. Trong phần chữ các trang SA và SP đã mở, không thấy dòng nào nói về khả năng chịu phèn. Nước giếng có phèn hay nhiều cát là câu hỏi cho bên bán, không phải điều catalog đã trả lời.
Ví dụ tính (giả định): khi thả chìm, mực nước động thành một phần của cột áp
Với máy hút, mực nước động là giới hạn. Với bơm chìm, nó trở thành một phần của cột áp cần đẩy. Giả định: cần 3 m³/h, mực nước động mùa khô 25 m (xa hơn nhiều so với 7 m hay 8 m của máy hút), ống đẩy lên bể cao hơn miệng giếng 6 m, tổn thất ống tự ước 4 m.
Cột áp cần = 25 + 6 + 4 = 35 m tại Q = 3 m³/h.
Đọc bảng Perotac 4SA3 (trang 7/19), cột Q = 3 m³/h (50 l/min), cùng một cột cho cả bốn mã:
| Mã (catalog) | H tại Q = 3 m³/h | So với 35 m cần |
|---|---|---|
| 4SA3/5 | 25 m | thiếu 10 m |
| 4SA3/7 | 35 m | bằng, không dư |
| 4SA3/10 | 50 m | dư 15 m |
| 4SA3/13 | 66 m | dư 31 m |
Đọc mã theo catalog: 4SA3/7 là giếng 4 inch, 3 m³/h, 7 tầng cánh. Phép tính trên minh họa cách đọc bảng 4SA3; chưa đủ để chốt một mã cho giếng thật. Chọn cỡ công suất cho nhu cầu cụ thể thì xem bài bơm hỏa tiễn 4 inch hay 6 inch.
Một lưu ý khi đọc cùng trang đó: đầu trang ghi Max. head 445 m cho cả dòng 4SA3. Đó là cột áp của mã 4SA3/62 ở Q = 0, tức vòi đóng. Cũng mã đó, ở Q = 3 m³/h chỉ còn 313 m. Đọc theo lưu lượng thật dùng, đừng đọc con số to nhất đầu trang.
Đổi từ máy hút sang bơm chìm: phần nào phải làm lại
| Hạng mục | Máy hút đặt cạn | Bơm chìm |
|---|---|---|
| Chỗ đặt | Trên miệng giếng, có ống hút xuống nước | Trong ống giếng, ngập dưới mặt nước |
| Mồi nước | Phải mồi buồng bơm và ống hút | Nằm sẵn trong nước nên không mồi như máy cạn |
| Điện | Dây nguồn ngắn | Cần đơn vị lắp đặt xác nhận cáp, mối nối và sụt áp theo mã máy |
| Treo máy | Đặt trên bệ | Cần xác nhận hệ treo theo hướng dẫn đúng mã máy |
| Điều khiển | Công tắc, rơ-le theo máy cũ | Hộp khởi động hoặc hộp điều khiển theo catalog, xem mã 1 pha hay 3 pha |
Sụt áp trên dây dài là điều cần tính trước khi đổi sang bơm chìm, xem bài bơm hỏa tiễn 220V sụt áp dây dài. Bể chứa, bình áp và đường ống sau bơm cũng cần kiểm lại với lưu lượng và cột áp của máy mới, đừng mặc định dùng lại được.
Năm lỗi hay gặp khi giếng sâu
- Lấy độ sâu giếng thay mực nước động. Máy hút chỉ thấy khoảng cách tới mặt nước.
- Thay máy đặt cạn khỏe hơn để hút sâu hơn. Catalog CM ghi cùng 7 m cho các mã từ 1,5 kW tới 9,2 kW.
- Nhầm hút sâu với đẩy cao. Hút sâu là từ mặt nước lên máy, đẩy cao là từ máy lên bể. Cột áp H phải đối chiếu với tổng nhu cầu hệ tại lưu lượng cần; đây không phải độ sâu hút cho phép.
- Thả bơm chìm sát đáy hoặc không đủ ngập mùa khô. Sát đáy dễ hút cát bùn, thả nông thì mùa khô cửa hút lộ ra khỏi nước và bơm chạy khô. Cách chọn độ sâu thả xem mục 8 trong bài bơm giếng khoan là gì ở trên.
- Mua theo cách gọi miệng mà không đo ống giếng. Đo lòng trong ống, rồi đối chiếu với giếng tối thiểu của SA hoặc đường kính bơm lớn nhất của SP (loạt 4 inch: Ø95 mm).
Câu cần hỏi trước khi đổi sang bơm chìm
- Mực nước động mùa khô là bao nhiêu mét, đo bằng cách nào, vào lúc nào?
- Lòng trong ống giếng bao nhiêu, mã SA hoặc SP đang xét có vừa không theo catalog?
- Điện nhà là 1 pha hay 3 pha, mã đang xét có bản đúng pha đó không?
- Nước giếng có cát hoặc phèn không? Catalog ghi giới hạn cát, không ghi khả năng chịu phèn.
- Cáp chìm cần dài bao nhiêu, sụt áp ở chiều dài đó là bao nhiêu?
- Ai thả bơm, ai kéo bơm lên khi cần, thợ giếng ở vùng bạn có làm được không?
Cần đối chiếu mã giếng của bạn với catalog thì nhắn qua trang liên hệ. Bơm chìm giếng khoan có ở mục bơm chìm giếng khoan.
Câu hỏi thường gặp về giếng sâu và máy hút
Máy bơm hút giếng sâu hút được tối đa bao nhiêu mét?
Catalog Aquaris ghi dòng CM tối đa 7 m, dòng MHI của Aquaris và Perotac ghi 8 m. Lý thuyết cột nước nâng được khoảng 10,33 m, nhưng máy thật thấp hơn. Gặp quảng cáo ghi hút 20 m, 30 m hay hơn, hãy hỏi rõ đó là máy đặt cạn thường, máy có bộ ejector hay bơm chìm.
Giếng khoan sâu 60 m có bắt buộc dùng bơm chìm không?
Không nhất thiết. Điều quyết định là mực nước động, không phải độ sâu giếng. Nếu mực nước động mùa khô còn nằm dưới trần hút của dòng máy bạn dùng, kể cả phần hao ở ống hút, máy đặt cạn vẫn có thể chạy. Vượt điều kiện hút của CM/MHI đang xét thì cần phương án khác, trong đó SA/SP phải được đối chiếu với giếng và điểm Q–H.
Bơm đặt cạn công suất lớn có hút sâu hơn không?
Không theo catalog CM: các mã 1,5 kW tới 9,2 kW trên trang CM 32 cùng ghi 7 m. Trong các mã CM32 trên trang catalog này, cột áp phải đọc theo từng mã ở cùng lưu lượng; số kW riêng không đủ để chọn bơm.
Bơm chìm có phải mồi nước như máy hút không?
Bơm chìm nằm ngập trong nước nên buồng bơm có nước sẵn, không cần mồi từ ống hút như máy đặt cạn. Nhưng nếu mực nước tụt xuống dưới cửa hút thì bơm vẫn chạy khô, nên mùa khô phải kiểm lại độ ngập.
Bộ ejector (củ hút sâu) có thay được bơm chìm không?
Đó là cách để máy đặt cạn lấy nước xa hơn, thường cần thêm đường ống hồi. Catalog SA và SP là bơm chìm, không nói về bộ ejector, nên bài này không nêu số cho phương án đó. Nếu thợ đề nghị, hãy hỏi mực nước tối đa họ cam kết, đường ống phải thêm và nhờ xác nhận bằng văn bản.