2026-08-24 · Cập nhật 2026-09-05

Bơm giếng khoan không lên nước: nguyên nhân và cách kiểm

Bơm giếng khoan không lên nước không nên kết luận ngay là cháy motor hoặc hỏng cụm cánh. Ngoài hiện trường, cùng một máy có thể bơm ổn mùa mưa nhưng lên yếu vào mùa khô chỉ vì mực nước động tụt sâu hơn. Nếu cứ cho chạy thử liên tục khi không có nước, bơm có thể chạy khô, nóng phớt, hút cát hoặc làm lỗi điện nặng hơn.

Trả lời ngắn: hãy dừng bơm, cô lập điện, phân biệt triệu chứng, kiểm áp kế, van, đường ống, tủ điện và dữ liệu mực nước từ mặt đất trước khi quyết định kéo bơm. Với bơm hỏa tiễn chìm, lỗi thường nằm ở mực nước động tụt, van một chiều hở, ống thả nứt, cát mài mòn, điện 3 pha sai hoặc chọn thiếu TDH; không xử theo kiểu “mất mồi” của bơm đặt cạn.

Nếu đang lắp mới hoặc vừa kéo bơm lên xử lý, đọc thêm cách lắp đặt bơm giếng khoan để kiểm lại độ sâu thả, dây treo, mối nối cáp chìm và vị trí van một chiều trước khi đưa máy xuống giếng.

Nếu lỗi bắt đầu ngay sau khi thay sang một máy nhập khẩu khác, nên rà lại từ bước mua. Bài vì sao bơm giếng khoan Đài Loan được công trình ưa chuộng có checklist kiểm xuất xứ, phụ tùng và Q-H để tránh chọn đúng nhãn nhưng thiếu cột áp.

Triệu chứngHướng nghi ngờ trướcKiểm nhanh theo thứ tự
Bơm chạy nhưng đầu xả không có nướcMực nước động tụt, van/ống thả hở, cột áp thiếu, bơm quay ngượcDừng máy, đo áp, nghe tủ, kiểm dòng, hỏi mực nước động
Lên vài phút rồi mất nướcGiếng hồi yếu, bơm hút nhanh hơn nước bổ cập, chống cạn/non tảiGhi thời gian lên nước, thời gian nghỉ, đo mực động nếu có
Áp tụt sau khi tắt dù không dùng nướcNước hồi xuống giếng, van một chiều/ống thả/đường ống ròĐóng van nhánh, theo dõi áp kế, nghi đoạn dưới giếng nếu áp vẫn tụt
Nước có cát, đục, lưu lượng giảm dầnLưới hút/cánh/khuếch tán bị cát mài mòn hoặc bơm thả sát đáyLấy mẫu nước, kiểm cát, xem vị trí thả bơm so với đáy
CB nhảy, tủ báo lỗi, 3 pha lên yếuMất pha, lệch pha, đảo pha, điện áp thấp, tụ/hộp điều khiển lỗiKhông reset liên tục; giao phần điện cho kỹ thuật đủ chuyên môn

Bơm giếng khoan không lên nước: kiểm gì trước?

Dừng bơm nếu chạy mà không có nước

Khi bơm đã chạy mà đầu xả không có nước, việc đầu tiên là dừng máy. Bơm chìm giếng khoan cần nước đi qua cụm thủy lực và quanh motor để làm mát. Nếu giếng tụt nước dưới cửa hút, đường ống thả bị hở hoặc bơm chạy gần không tải, tiếp tục đóng điện chỉ làm phớt, cánh, ổ đỡ và motor chịu rủi ro lớn hơn.

Không kéo bơm ngay lập tức nếu chưa kiểm các dấu hiệu từ mặt đất. Kéo bơm giếng sâu mất công, có thể làm đứt mối nối hoặc hỏng cáp nếu làm vội. Nhưng cũng không được reset CB nhiều lần để “thử thêm”. Trình tự đúng là cô lập điện, kiểm tủ, áp, van, nguồn nước, rồi mới quyết định có cần kéo máy.

Phân biệt không lên nước, lên yếu, lên vài phút rồi mất, áp tụt sau khi tắt

Mỗi triệu chứng chỉ về một nhóm lỗi khác nhau. “Không lên nước” hoàn toàn có thể do quay ngược ở bơm 3 pha, van chặn đóng, ống thả gãy hoặc mực nước động tụt sâu. “Lên yếu” thường liên quan đến thiếu cột áp, cánh mòn, điện áp thấp hoặc đường ống nghẹt. “Lên vài phút rồi mất” rất hay gặp ở giếng hồi yếu vào mùa khô.

“Áp tụt sau khi tắt” lại là câu chuyện khác: nước có thể hồi xuống giếng qua van một chiều hở, ống thả nứt hoặc đường ống sau bơm rò. Nếu không tách triệu chứng, kỹ thuật rất dễ kéo bơm lên khi lỗi nằm ở bình áp, hoặc ngược lại chỉ chỉnh công tắc áp suất trong khi ống thả dưới giếng đã gãy.

Kiểm từ mặt đất trước khi quyết định kéo bơm

Hãy đi từ rẻ công nhất: nhìn áp kế, van khóa, tủ điện, dòng điện, điện áp, trạng thái chống cạn, thời gian bơm lên nước và thời gian giếng hồi. Nếu hệ có đồng hồ nước, ghi lưu lượng thực tế. Nếu có dây đo mực nước, đo mực tĩnh khi giếng nghỉ và mực động khi bơm chạy.

Chỉ kéo bơm lên khi có dấu hiệu rõ: rò điện, CB nhảy lặp, tủ báo mất pha/non tải, nghi ống thả hoặc van dưới giếng, nước nhiều cát, lưu lượng giảm dần nhiều ngày, hoặc các phép kiểm mặt đất không loại trừ được lỗi trong giếng.

Bảng khoanh vùng theo triệu chứng

Hiện tượng thực tếNguyên nhân hay gặpHành động ban đầu
Bơm chạy nhưng đầu xả không có nướcMực nước dưới cửa hút, ống thả nứt, van kẹt, bơm thiếu ápDừng máy, kiểm van, áp kế, tủ và mực nước
Nước lên vài phút rồi mấtGiếng hồi yếu, mùa khô, bơm quá lớn so với lưu lượng giếngGhi chu kỳ lên/mất nước, cài thời gian nghỉ theo hồi nước đo được
Áp tụt khi không dùng nướcVan một chiều hở, ống thả rò, bình áp/đường ống sau bơm ròCô lập từng đoạn bằng van khóa, theo dõi áp kế
Nước có cát, đục, lưu lượng giảm dầnBơm thả sát đáy, giếng chưa rửa, cánh/khuếch tán mònLấy mẫu nước, kiểm cát, không tăng công suất theo cảm tính
Bơm 3 pha chạy nhưng nước yếuĐảo pha, mất pha, lệch pha, điện áp thấpKiểm chiều quay và bảo vệ pha; không tự đảo dây nếu không có chuyên môn

Bảng này giúp khoanh vùng, không thay thế kiểm thực tế. Khi đã nghi chọn thiếu cột áp hoặc cần đối chiếu lại model, mở bài nền bơm giếng khoan là gì và bài cách chọn máy bơm theo lưu lượng và cột áp để rà lại TDH.

Nguyên nhân 1: mực nước động tụt dưới cửa hút bơm

Mực nước tĩnh khác mực nước động

Mực nước tĩnh là mặt nước khi giếng nghỉ. Mực nước động là mặt nước khi bơm đang chạy ở một lưu lượng cụ thể. Bơm giếng khoan không được chọn theo mực tĩnh, vì lúc máy làm việc, mặt nước có thể tụt sâu thêm nhiều mét. Nếu cửa hút không còn đủ ngập, bơm có thể lên yếu, lên vài phút rồi mất hoặc tủ chống cạn báo lỗi.

Với giếng khoan, cần ghi rõ mực động tại lưu lượng nào. Mực động khi bơm 1,5 m³/h không giống mực động khi bơm 3 m³/h. Lưu lượng càng lớn, giếng yếu càng tụt nước nhanh.

Mùa khô và bơm quá lớn làm giếng tụt nước nhanh hơn

Mùa khô làm mực nước tĩnh và khả năng hồi nước giảm. Một bơm vốn đủ áp vào mùa mưa có thể thiếu áp vào mùa khô vì cột nước phải nâng tăng lên. Bơm lớn hơn không luôn giải quyết được lỗi này; nó có thể hút nhanh hơn khả năng bổ cập, làm mực nước động tụt sâu hơn, rồi chống cạn/non tải ngắt bơm.

Bơm đang chạy không lên nước chưa chắc là bơm hỏng. Có khi hệ thống chỉ đang đi qua giới hạn khai thác bền vững của giếng.

Vì sao phải đo hồi nước của giếng, không chỉ tăng công suất bơm

Nếu bơm lên vài phút rồi mất nước, hãy ghi thời gian từ lúc chạy tới lúc mất nước, thời gian nghỉ để nước hồi và lưu lượng xả ban đầu. Từ đó mới cài thời gian nghỉ cho rơ-le hoặc điều chỉnh lưu lượng khai thác. Không dùng một mốc chờ cố định cho mọi giếng; thời gian nghỉ phải theo dữ liệu hồi nước đo được.

Với giếng yếu, giải pháp có thể là giảm lưu lượng bơm, chia thời gian chạy, dùng bồn trung gian hoặc chọn lại điểm làm việc. Tăng công suất khi giếng không đủ nước chỉ làm sự cố xảy ra nhanh hơn.

Nguyên nhân 2: van một chiều hoặc đường ống thả làm tụt áp

Áp tụt sau khi tắt bơm: nghi nước hồi xuống giếng

Nếu áp kế tụt sau khi bơm dừng và không có điểm dùng nước mở, hãy nghĩ tới nước hồi. Nước có thể hồi qua van một chiều không kín, qua mối nối ống thả hở hoặc qua đoạn ống sau bơm bị rò. Với hệ có bình áp, cần tách lỗi bình áp/đường ống trên mặt đất khỏi lỗi dưới giếng.

Cách kiểm đơn giản là cô lập từng đoạn bằng van khóa nếu hệ có sẵn. Nếu khóa đường ra nhà mà áp vẫn tụt về phía giếng, nghi nhiều hơn ở van một chiều, ống thả hoặc cụm dưới giếng.

Van một chiều kẹt, hở, lắp sai hoặc mòn

Van một chiều giữ cột nước trong ống thả khi bơm dừng. Nếu van kẹt cát, hở gioăng, lắp sai chiều hoặc mòn, nước tụt lại xuống giếng. Lần chạy sau bơm phải đẩy lại cả cột nước, áp lên chậm, bình áp nạp kém và có thể tạo cảm giác bơm yếu.

Không nên chỉ thay công tắc áp suất khi áp tụt. Nếu nguyên nhân là nước hồi xuống giếng, thay thiết bị điều khiển không giải quyết được cột nước đang mất sau mỗi lần dừng.

Ống thả nứt/gãy: lỗi đặc thù của bơm chìm giếng sâu

Ống thả nằm sâu trong giếng nên rò không nhìn thấy như đường ống trên mặt đất. Một vết nứt, khớp nối tuột hoặc ống gãy có thể làm nước phun ngược trong giếng thay vì lên bồn. Motor vẫn chạy, dòng vẫn có thể gần bình thường, nhưng đầu xả trên mặt đất rất yếu hoặc không có nước.

Dấu hiệu gợi ý là bơm chạy nghe có tải, áp không lên, giếng có tiếng nước hồi hoặc áp tụt nhanh sau khi dừng. Trường hợp này thường phải kéo bơm lên để kiểm ống, van và đầu nối.

Nguyên nhân 3: cát, cặn làm nghẹt lưới hút hoặc mòn cụm cánh

Dấu hiệu: nước đục, cát ra vòi, lưu lượng giảm dần

Nước có cát thường không làm bơm mất nước ngay trong một ngày, mà làm lưu lượng giảm dần. Cát che lưới hút, mài mòn cánh, bộ khuếch tán và ổ đỡ. Khi khe hở tăng, bơm vẫn quay nhưng không còn tạo đủ cột áp ở lưu lượng cũ.

Theo tài liệu kỹ thuật của hãng, các dòng giếng khoan trên web dùng mốc hàm lượng cát tối đa 0,25%. Nếu nước ra vòi có cát rõ, giếng mới chưa rửa sạch hoặc bơm thả sát đáy, cần xử lý nguồn cát trước khi đổi bơm.

Cát là mài mòn, không xử lý bằng cách chọn bơm mạnh hơn

Cát là lỗi mài mòn cơ học, không phải lỗi thiếu công suất đơn giản. Chọn bơm mạnh hơn có thể hút cát nhiều hơn, làm cánh mòn nhanh hơn và kéo mực nước động tụt sâu hơn. Nếu giếng nhiều cát, hãy kiểm quy trình súc rửa, tầng lọc, vị trí thả bơm và khoảng cách tới đáy.

Đừng dùng bơm giếng khoan để hút bùn, nước thải hoặc dị vật. Dòng này sinh ra cho nước giếng trong giới hạn catalog, không phải bơm hố móng hay bơm nước thải.

Kiểm vị trí thả bơm so với đáy giếng

Mốc chẩn đoán thực tế là bơm nên cách đáy khoảng 1-3 m và ngập dưới mực nước động ít nhất 1-2 m, tùy giếng và tài liệu model. Nếu thả quá sát đáy, bơm dễ hút cát lắng. Nếu thả quá cao, mùa khô có thể làm mực nước động tụt gần cửa hút.

Đường kính ngoài của bơm cũng nên nhỏ hơn đường kính trong ống vách ít nhất 10-15 mm để còn khe thả bơm và dòng nước làm mát. Bơm quá sát thành giếng có thể nóng dù vẫn ngập nước.

Nguyên nhân 4: chọn thiếu cột áp hoặc dùng sai mực nước động

TDH = mực nước động + chiều cao xả + tổn thất ống + áp yêu cầu

Với bơm giếng khoan, công thức chẩn đoán nên viết rõ:

TDH = mực nước động + chiều cao xả + tổn thất ống + áp yêu cầu tại điểm dùng

Nếu xả vào bồn hở, áp yêu cầu có thể tính 0 m. Nếu cấp vào hệ có áp, phải cộng thêm phần áp đó quy đổi sang mét cột nước. Đường ống dài, nhỏ, nhiều co, van một chiều và lọc cũng làm TDH tăng.

Lấy mực nước tĩnh để chọn bơm khiến máy vẫn chạy nhưng nước yếu

Sai lầm hay gặp là lấy mực tĩnh vì dễ đo hơn. Ví dụ mực tĩnh 20 m, nhưng khi bơm chạy mực động tụt xuống 36 m, riêng sai khác này đã là 16 m cột áp. Một model chọn vừa đủ theo mực tĩnh có thể thiếu áp ngay khi vận hành thật.

Khi bơm từng lên nước tốt rồi về sau yếu dần, hãy kiểm lại mực động theo mùa. Không nên chỉ nhìn tem công suất kW hoặc kết luận cụm cánh mòn trước khi đo nước.

Tra Q-H tại đúng lưu lượng, không đọc cột áp max

Cột áp max là điểm gần Q=0, không dùng để chọn hoặc chẩn đoán lưu lượng làm việc. Nếu cần 1,5 m³/h, hãy đọc đúng cột 1,5 m³/h. Nếu cần 24 m³/h, đọc đúng cột 24 m³/h.

Xem bảng đầy đủ tại 2SS / 2.5SS, 3SS, 4SA Perotac, 4SP Aquaris và 6SA Perotac. Một số điểm Q-H dùng để đối chiếu nhanh:

Dòng/mãSố Q-H theo tài liệu kỹ thuật của hãngÝ nghĩa khi chẩn đoán
2SSM0.7/382SSM0.7/38 cho 34 m tại 0,6 m³/hGiếng Ø60, lưu lượng nhỏ, cần đẩy cao vừa
2.5SSM1.5/312.5SSM1.5/31 cho 52 m tại 1,5 m³/hGiếng Ø75, ví dụ mùa khô ở phần dưới
4SA3/104SA3/10 cho 50 m tại 3,0 m³/hGiếng 4 inch, nhóm 3 m³/h
6SA25/86SA25/8 cho 78 m tại 24 m³/hGiếng 6 inch, lưu lượng công nghiệp vừa
6SA60-156SA60-15 cho 125 m tại 60 m³/hNhóm 6SA60 công suất lớn

Với hàng Aquaris, phải tra Q–H trên đúng bảng 4SP và ghi đúng mã 4SP. Không đổi sang mã 4SA hoặc lấy số trong bảng 4SA để kết luận cho máy 4SP.

Nguyên nhân 5: điện, tủ, tụ, pressure switch hoặc bơm 3 pha quay ngược

Bơm 1 pha: tụ, hộp điều khiển và nguồn điện

Bơm 1 pha có thể không lên nước do tụ yếu, hộp điều khiển lỗi, nguồn sụt áp, mối nối cáp ẩm hoặc motor không đạt tốc độ. Triệu chứng có thể là khó khởi động, tiếng ù, dòng bất thường, CB nhảy hoặc chạy nhưng lưu lượng kém.

Không tự mở hộp điều khiển khi không có chuyên môn điện. Hãy đo điện áp lúc tải, kiểm mối nối, tụ và dòng motor theo tài liệu model. Với bơm nằm sâu, dây dài làm sụt áp đáng kể hơn hệ bơm đặt gần tủ.

Bơm 3 pha: mất pha, lệch pha, đảo pha

Bơm 3 pha quay ngược vẫn có thể tạo nước nhưng lưu lượng và cột áp yếu. Mất pha hoặc lệch pha làm motor nóng và có thể cháy cuộn rất nhanh. Vì bơm nằm dưới giếng, người vận hành không nghe rõ tiếng bất thường như bơm trên mặt đất.

Tủ bảo vệ pha, quá tải và tiếp địa là phần bắt buộc với hệ 3 pha. Các hạng mục điều khiển có thể xem ở tủ điện và phụ kiện, nhưng thao tác đo điện, đảo pha hoặc chỉnh tủ phải do người đủ chuyên môn thực hiện.

Tủ chống cạn/non tải: lỗi underload là tín hiệu giếng thiếu nước

Rơ-le non tải hoặc underload thường ngắt khi bơm chạy mà tải thủy lực giảm bất thường. Với giếng khoan, đây có thể là tín hiệu mực nước tụt, bơm hút không đủ nước hoặc đường ống bị hở làm bơm gần như không tải. Đừng chỉ tăng ngưỡng để tủ khỏi báo; hãy tìm nguyên nhân nước thiếu.

Thời gian reset nên cài theo thời gian hồi nước đo được của giếng. Nếu giếng cần nghỉ lâu mới hồi, cho bơm tự bật lại quá nhanh sẽ tạo vòng lặp chạy khô, dừng, chạy khô.

Nguyên nhân 6: bình áp, công tắc áp suất và đường ống sau bơm

Khi nào lỗi không nằm dưới giếng

Không phải mọi lỗi “bơm giếng khoan không lên nước” đều nằm dưới giếng. Nếu bơm vẫn đẩy nước khi xả trực tiếp nhưng hệ trong nhà mất áp, lỗi có thể ở bình áp, công tắc áp suất, van khóa, lọc nghẹt hoặc đường ống sau bơm.

Với hệ có bình áp, cần xem áp kế, trạng thái công tắc áp suất, áp khí trong bình và rò rỉ đường ống. Bài này chỉ khoanh ngắn để tránh lệch sang chuyên đề bình áp, nhưng nguyên tắc vẫn là cô lập từng đoạn bằng van khóa trước khi kéo bơm.

Áp kế, bình áp, rò đường ống, van khóa

Một van khóa chưa mở hết, lọc tổng nghẹt hoặc đường ống rò sau bơm có thể làm người dùng tưởng bơm không lên. Nếu áp lên tốt trước lọc nhưng yếu sau lọc, lỗi không nằm dưới giếng. Nếu áp tụt khi khóa toàn bộ đầu ra mà vẫn tụt về phía giếng, quay lại nghi van một chiều hoặc ống thả.

Gắn áp kế đúng vị trí giúp cắt ngắn thời gian dò lỗi. Không nên tháo bơm chỉ vì vòi cuối tuyến yếu, trong khi bộ lọc hoặc van sau bình áp đang nghẹt.

Bơm hỏa tiễn có bị mất mồi không?

Bơm chìm giếng khoan không cần mồi như bơm đặt cạn

Bơm hỏa tiễn chìm nằm dưới nước, cụm thủy lực được ngập trong giếng nên không “mất mồi” theo kiểu buồng bơm đặt cạn bị đầy không khí. Nếu máy không lên nước, hãy nghĩ tới mực nước động, cột áp, van một chiều, ống thả, cát, điện và trạng thái tủ.

Gọi nhầm “mất mồi” có thể dẫn tới xử lý sai: châm nước, kiểm van chân, mồi lại đường hút. Những thao tác đó phù hợp với bơm ly tâm đặt cạn, không phải lỗi cốt lõi của bơm chìm giếng khoan.

Nếu đang dùng bơm đặt cạn hoặc jet pump

Nếu hệ của bạn là bơm đặt trên mặt đất hút từ giếng, đó là bài toán đường hút, van chân, mồi nước và giới hạn hút lý thuyết 10,33 m. Khi đó hãy đọc bài bơm ly tâm không lên nước, vì thứ tự kiểm khác hẳn bơm chìm.

Tránh chẩn đoán theo tên gọi chung “bơm giếng khoan”. Hãy xác định máy đang thả dưới giếng hay đặt cạn trên mặt đất trước khi sửa.

Ví dụ tính: mùa khô làm bơm từ đủ cột áp thành không đủ

Tính TDH trước và sau khi mực nước động tụt

Đề bài: một giếng Ø75 dùng bơm 2.5SSM1.5/31. Trước mùa khô, mực nước động khi chạy 1,5 m³/h là 36 m. Bồn cao hơn miệng giếng 8 m, tổn thất ống tạm tính 5 m, xả vào bồn hở nên áp yêu cầu là 0 m. Đến mùa khô, mực nước động tụt xuống 44 m.

TDH ban đầu = 36 + 8 + 5 + 0 = 49 m.

TDH mùa khô = 44 + 8 + 5 + 0 = 57 m.

Chỉ riêng mực nước động tụt thêm 8 m đã làm TDH tăng từ 49 m lên 57 m.

Đối chiếu Q-H thật của 2.5SS

Xem bảng đầy đủ nhóm Ø75 tại bơm giếng khoan Perotac 2SS / 2.5SS. Theo tài liệu kỹ thuật của hãng, 2.5SSM1.5/31 cho 52 m tại 1,5 m³/h.

Biên ban đầu = 52 - 49 = 3 m, tức còn đủ nhẹ nếu các điều kiện khác ổn.

Thiếu cột áp mùa khô = 57 - 52 = 5 m.

Kết luận: không vội kết luận bơm hỏng

Cùng một bơm, cùng đường ống, cùng bồn chứa, hệ từ “còn đủ 3 m” thành “thiếu 5 m” chỉ vì mực nước động tụt thêm 8 m. Triệu chứng có thể là nước lên yếu, bơm lâu đầy bồn hoặc lên vài phút rồi mất.

Trong trường hợp này, cần đo lại mực động, kiểm lưu lượng giếng hồi, kiểm van và đường ống trước khi kết luận motor hỏng. Nếu giếng không hồi đủ, chọn bơm lớn hơn có thể làm mực nước tụt sâu hơn và khiến lỗi nặng thêm.

Khi nào phải gọi kỹ thuật và kéo bơm lên?

Có rò điện, CB nhảy lặp, tủ báo mất pha hoặc non tải

Hãy gọi kỹ thuật nếu có rò điện, CB nhảy lặp, tủ báo mất pha/lệch pha, báo non tải, cáp nóng, mối nối ẩm hoặc cần đo cách điện. Không đứng thao tác quanh miệng giếng ướt khi chưa cô lập điện. Không tự kéo bơm bằng dây điện.

Nếu bơm 3 pha lên yếu sau khi sửa điện, cần kiểm chiều quay và bảo vệ pha trước khi kéo bơm. Nếu motor mất pha hoặc điện áp thấp, kéo bơm lên chưa chắc giải quyết được lỗi nguồn.

Nghi ống thả, van dưới giếng, cánh mòn, cát nhiều

Nên kéo bơm khi nghi ống thả nứt/gãy, van một chiều dưới giếng hở, cụm cánh mòn do cát, lưới hút nghẹt hoặc bơm thả sai vị trí. Trước khi kéo, ghi lại độ sâu thả bơm, loại ống thả, vị trí nối cáp và các dấu hiệu áp/lưu lượng để khi lắp lại có mốc so sánh.

Với giếng sâu, chuẩn bị pa lăng, dây/cáp chịu lực và người thao tác đủ an toàn. Không để trọng lượng bơm và cột ống treo vào cáp điện.

Dữ liệu cần gửi: độ sâu, mực tĩnh, mực động, Q, H, điện áp, tình trạng cát

Khi cần hỗ trợ chọn lại hoặc chẩn đoán, hãy gửi đủ dữ liệu:

  1. Đường kính trong ống vách: Ø60, Ø75, Ø90, Ø110 hay Ø160.
  2. Tổng chiều sâu giếng và độ sâu đang thả bơm.
  3. Mực nước tĩnh, mực nước động và lưu lượng đo khi bơm chạy.
  4. Nhu cầu lưu lượng m³/h, chiều cao xả, đường kính và chiều dài ống.
  5. Nguồn điện 1 pha/3 pha, điện áp khi bơm đang tải, trạng thái tủ.
  6. Nước có cát, đục, mùi lạ hoặc thay đổi theo mùa không.

Nếu đang chọn lại model, có thể xem nhóm bơm giếng khoan cánh nhựa, nhóm bơm giếng khoan inox, hoặc bài bơm giếng khoan loại nào tốt để chuẩn bị dữ liệu trước.

Nếu máy dừng do nước giếng tụt, hãy kiểm tra vị trí que dò và mức chạy lại của bơm giếng khoan sâu trước khi kéo bơm.

Câu hỏi thường gặp

Bơm giếng khoan chạy nhưng không lên nước có phải cháy motor không?

Chưa chắc. Nếu motor còn chạy, lỗi có thể là mực nước động tụt, ống thả hở, van một chiều hỏng, quay ngược, thiếu cột áp hoặc giếng thiếu nước. Không nên cho chạy tiếp lâu khi không có nước.

Bơm hỏa tiễn có cần mồi nước không?

Không theo kiểu bơm đặt cạn. Bơm hỏa tiễn nằm ngập dưới nước nên không xử lý bằng cách mồi buồng bơm. Nếu hệ của bạn là bơm đặt cạn hút từ giếng, hãy kiểm theo bài bơm ly tâm không lên nước.

Vì sao bơm lên vài phút rồi mất nước?

Thường nghi giếng hồi yếu hoặc mực nước động tụt xuống gần cửa hút. Cần ghi thời gian chạy, thời gian nghỉ, lưu lượng ban đầu và đo mực động để cài chống cạn hoặc chọn lại lưu lượng khai thác.

Nước có cát thì chọn bơm mạnh hơn được không?

Không nên. Cát là mài mòn, bơm mạnh hơn có thể hút cát nhiều hơn và làm giếng tụt nước nhanh hơn. Cần xử lý giếng, vị trí thả bơm và giới hạn cát của model.

Áp tụt sau khi bơm tắt là lỗi gì?

Thường nghi nước hồi qua van một chiều, ống thả rò hoặc đường ống sau bơm rò. Hãy cô lập từng đoạn bằng van khóa và theo dõi áp kế trước khi kéo bơm.

Khi nào phải kéo bơm lên khỏi giếng?

Khi có rò điện, CB nhảy lặp, nghi ống thả/van dưới giếng, cánh mòn do cát, lưới hút nghẹt hoặc đã kiểm hết phần tủ, van, áp kế trên mặt đất mà vẫn không xác định được lỗi.

Kết luận

Bơm giếng khoan không lên nước phải kiểm theo thứ tự: dừng máy, phân biệt triệu chứng, kiểm điện/tủ/áp/van, đo mực nước động, rồi mới kéo bơm. Bơm hỏa tiễn chìm không mất mồi như bơm đặt cạn; lỗi thường nằm ở giếng, ống thả, van một chiều, cát, điện hoặc chọn sai TDH.

Bạn có thể đối chiếu các trang dòng giếng khoan ở trên, hoặc gửi độ sâu giếng, mực tĩnh, mực động, lưu lượng, chiều cao xả, nguồn điện, ảnh tủ và tình trạng cát qua trang liên hệ để kỹ thuật khoanh nguyên nhân trước khi kéo bơm.

Cần tư vấn chọn bơm?

Gửi nhu cầu (lưu lượng, cột áp, môi trường vận hành) qua trang liên hệ — kỹ thuật sẽ đối chiếu và đề xuất model phù hợp với hệ thống của bạn.

Bảng lưu lượng - cột áp theo dòng máy

Model cùng nhóm trong catalog

Bài viết liên quan

Báo giáYêu cầu liên hệGọiZaloNhắn tin báo giá