Chiều mùa khô, máy bơm giếng khoan chạy chừng mười phút thì nước ra yếu dần, rồi chỉ còn tiếng máy. Tắt nửa tiếng, bật lại, nước lên được một lúc rồi lại hụt. Chủ nhà nghĩ giếng cạn, thợ nghĩ máy có vấn đề. Còn một khả năng ít người tính tới: máy rút nước nhanh hơn giếng kịp bù.
Trả lời ngắn: máy bơm giếng khoan bị hụt nước có hai kiểu: giếng yếu đi (mực nước ngầm tụt, lớp lọc bồi lấp) hoặc máy rút nhiều hơn giếng bù. Kiểu sau kiểm được bằng catalog: ở cột áp cần của nhà bạn, mỗi mã bơm ra một lưu lượng riêng, mã mạnh hơn bơm ra nhiều hơn.
Máy bơm giếng khoan bị hụt nước: hai kiểu hụt, hai cách tìm lỗi
Các trang hướng dẫn đã đọc xếp nguyên nhân hụt nước vào một danh sách: mực nước ngầm tụt vào mùa khô, giếng bị bồi lấp hoặc lớp lọc tắc, van một chiều hở, ống rò, bơm hỏng. Danh sách đó đúng, và bài bơm giếng khoan không lên nước đã đi qua từng mục. Một trang trong số đó có một câu ngắn về điều bài này mở rộng: khi dùng máy quá công suất, nước ngầm không kịp hồi phục.
Hai kiểu hụt khác nhau ở chỗ này. Giếng yếu đi thì thay máy nhỏ hơn cũng hụt, chỉ hụt chậm hơn. Máy rút quá tay thì cùng cái giếng đó, đổi sang mã rút ít hơn là nước ổn. Muốn biết nhà mình thuộc kiểu nào cần hai con số: lưu lượng máy bơm ra ở cột áp nhà bạn, và lưu lượng giếng bù. Số thứ nhất nằm trong catalog. Số thứ hai không nằm ở đâu ngoài giếng của bạn.
Cột áp cần 40 m: mỗi mã 4SA6 bơm ra bao nhiêu
Ví dụ giả định (mọi con số trong đoạn này là số đặt ra để tính, catalog không có): giếng 4 inch; lúc máy chạy ổn định, mực nước nằm cách miệng giếng 25 m; bể chứa đặt cao hơn miệng giếng 10 m; ống đẩy làm mất thêm 5 m cột áp. Cộng lại: 25 + 10 + 5 = 40 m.
Dòng 4SA6 của Perotac (catalog Bơm giếng SA, trang 9/19) có bảng cột áp theo tám cột lưu lượng: 0; 1,2; 2,4; 3,6; 4,8; 6; 7,2; 8,4 m³/h. Với mỗi mã, tìm cột cuối cùng còn cho từ 40 m trở lên, và cột liền sau nó. Lưu lượng thật tại 40 m nằm từ cột đầu tới trước cột sau. Bài không nội suy ra số lẻ.
| Mã (công suất) | Cột Q cuối còn đủ 40 m | Cột áp ở cột đó (m) | Cột Q liền sau | Cột áp ở cột đó (m) |
|---|---|---|---|---|
| 4SA6/6 (0,55 kW) | 1,2 | 40 | 2,4 | 39 |
| 4SA6/8 (0,75 kW) | 4,8 | 44 | 6 | 36 |
| 4SA6/9 (0,92 kW) | 6 | 40 | 7,2 | 31 |
| 4SA6/11 (1,1 kW) | 6 | 49 | 7,2 | 37 |
| 4SA6/13 (1,3 kW) | 7,2 | 44 | 8,4 | 25 |
Đọc theo hàng: mã 0,55 kW chỉ giữ được 40 m ở mức nước ra khoảng 1,2 m³/h, sang 2,4 m³/h đã tụt xuống 39 m. Mã 1,3 kW giữ 44 m tới tận 7,2 m³/h. Cùng một nhu cầu cột áp mà nước ra chênh nhau như vậy, chỉ vì chọn hàng nào trong cùng một bảng.
Giếng chỉ bù 6 m³/h: mã nào vượt sức giếng
Thêm một giả định: bơm thử cho thấy giếng bù được khoảng 6 m³/h và cột áp cần vẫn là 40 m. Đặt bảng trên cạnh con số 6:
- 4SA6/6 (0,55 kW): nước ra nằm giữa 1,2 và 2,4 m³/h, thấp hơn nhiều so với 6. Giếng không hụt vì máy, nhưng nước ra ít.
- 4SA6/8 (0,75 kW): nằm giữa 4,8 và 6 m³/h, tại cột 6 máy chỉ còn 36 m, nên lưu lượng thật còn dưới 6. Hợp với giếng này.
- 4SA6/9 (0,92 kW): ô cột 6 m³/h ghi đúng 40 m, nên lưu lượng tại 40 m là 6 m³/h, vừa chạm mức giếng bù.
- 4SA6/11 (1,1 kW): nằm giữa 6 và 7,2 m³/h, đã trên mức giếng bù.
- 4SA6/13 (1,3 kW): nằm giữa 7,2 và 8,4 m³/h, vượt xa hơn.
Mua máy 1,1 kW hay 1,3 kW "cho chắc" ở giếng này là cách tạo ra đúng hiện tượng hụt nước ở đầu bài: nước lên đẹp vài phút, rồi mực nước trong giếng xuống dưới cửa hút. Mã 0,75 kW tuy nhỏ hơn lại hợp giếng hơn.
Đây là phép đọc ô bảng cho ví dụ giả định. Giếng thật phải bơm thử đủ lâu mới biết bù bao nhiêu, và catalog không có số này.
Max. flow và số sau chữ SA: đừng đọc thành lưu lượng làm việc
Ở trang 1/19, catalog Perotac SA ghi cột "Max. flow" cho từng dòng giếng 4 inch: 4SA3 là 4,8; 4SA4 là 6; 4SA6 là 8,4; 4SA10 là 13,8; 4SA16 là 21 m³/h. Cách đọc tên mã ở cùng trang giải thích số sau chữ SA là "Capacity (m³/h)", nên 4SA6 ứng với số 6.
Hai điều dễ nhầm. Thứ nhất, với 4SA6, "Max. flow" là cột lưu lượng cuối của bảng, không phải mức nên chạy. Ở cột 8,4 m³/h của 4SA6, mã 4SA6/5 chỉ còn 10 m cột áp, mã 4SA6/52 còn 101 m. Máy chạy ở đó rất khó đẩy nước lên bể cao. Thứ hai, bảng tổng quan ghi giếng nhỏ nhất 4 inch cho cả bảy dòng từ 4SA3 tới 4SA16, nên chọn dòng theo lòng giếng chưa đủ. Giếng bù ít thì nghiêng về dòng có số nhỏ, như 4SA3 (Max. flow 4,8), thay vì 4SA16 (21).
Phần kích thước giếng và mã theo cỡ giếng, xem thêm ở trang dòng bơm giếng khoan Perotac 4SA.
Phần của giếng mà catalog không có: ba thứ phải đo
Catalog các trang đã mở không ghi độ sâu thả, mực nước động hay lưu lượng giếng bù. Ba thứ này phải đo tại giếng, tốt nhất cùng thợ khoan:
- Mực nước động. Mực nước khi máy đang chạy ổn định, không phải mực nước tĩnh lúc nghỉ. Một trang hướng dẫn mô tả cách đo bằng dây thả vào ống. Mực nước động đổi theo mùa nên nên đo cả mùa khô.
- Lưu lượng giếng bù. Cho máy chạy đủ lâu, đo nước ra mỗi giờ khi mực nước đã ổn định, hoặc đo xem sau bao lâu thì hụt. Nếu tắt máy nghỉ rồi nước lên lại thì dấu hiệu nghiêng về giếng bù chậm hơn máy rút, không nghiêng về máy hỏng.
- Độ sâu thả và khoảng cách tới đáy. Thả cao hơn mực nước động thì hụt ngay từ đầu. Con số này do thợ chốt cùng với đáy giếng, catalog không có.
Có đủ ba con số thì phần cột áp cần mới tính chắc được. Cách cộng cột áp chi tiết có ở bài tính cột áp bơm giếng khoan. Nếu bạn cần nâng nước từ giếng sâu và đang cân nhắc cả mã công suất lớn, bài máy bơm hỏa tiễn 1 ngựa rưỡi: giếng sâu bao nhiêu còn lên nước đọc cột áp theo một nhóm mã khác.
Hụt nước thì đổi mã hay giữ máy: bốn câu hỏi trước khi quyết
- Hụt xảy ra sau bao lâu từ lúc bật, và nghỉ bao lâu thì nước lên lại?
- Cột áp cần của nhà bạn là bao nhiêu mét, tính đủ ba phần: độ sâu mực nước lúc máy chạy, độ cao của bể và sức cản của ống?
- Tại cột áp đó, mã đang dùng cho nước ra nằm giữa hai cột Q nào của catalog, và con số đó so với lượng giếng bù ra sao?
- Nhà có cần nước liên tục, hay chạy theo đợt rồi trữ vào bể?
Nếu câu 3 ra lưu lượng cao hơn mức giếng bù, hướng nên hỏi bên bán là một mã cùng dòng rút ít hơn, hoặc cách cho máy chạy theo đợt. Nếu giếng bù rất ít và mực nước động tụt theo mùa thì việc thuộc về giếng, người xử lý là thợ khoan. Mã máy đang dùng, cột áp cần, mực nước động hai mùa và thời gian hụt có thể nhắn qua trang liên hệ, bên bán sẽ so với bảng.
Câu hỏi thường gặp về máy bơm giếng khoan bị hụt nước
Mã 4SA6 công suất lớn hơn có làm giếng hụt nước nhanh hơn không?
Có, theo bảng catalog trang 9/19. Tại cột áp cần 40 m (giả định), mã 0,55 kW cho nước ra nằm giữa 1,2 và 2,4 m³/h, còn mã 1,3 kW nằm giữa 7,2 và 8,4 m³/h. Nhiều nước ra hơn lại dễ vượt sức giếng.
Cột Max. flow của dòng 4SA có phải lưu lượng giếng yếu chịu được không?
Không. Đó là cột lưu lượng cuối của bảng cột áp, ghi ở trang 1/19 (4SA6 là 8,4 m³/h). Ở cột đó mã 4SA6/5 chỉ còn 10 m cột áp. Lưu lượng giếng chịu được là số đo tại giếng, catalog không ghi.
Nước hụt rồi hồi lại sau khi nghỉ thì giếng yếu hay máy hỏng?
Dấu hiệu đó nghiêng về giếng bù chậm hơn tốc độ máy rút, chưa kết luận máy hỏng. Muốn chắc hơn thì đo mực nước động khi máy đang chạy và ghi thời gian nghỉ cho tới lúc nước lên lại.
Đổi sang mã công suất nhỏ hơn trong dòng 4SA6 có hết hụt nước không?
Không chắc. Mã nhỏ rút ít hơn tại cùng cột áp, nên có thể hết hụt nếu giếng vẫn còn nước bù. Nhưng mã quá nhỏ có thể không đẩy nổi cột áp nhà bạn: ví dụ mã 0,55 kW chỉ có 42 m ở cột Q bằng 0.