Cách tính cột áp bơm giếng khoan hay bị nhầm ngay từ câu hỏi đầu tiên: "giếng sâu bao nhiêu mét thì chọn bơm bao nhiêu mét?". Ngoài hiện trường, độ sâu khoan chỉ là dữ liệu của giếng, chưa phải cột áp tổng. Máy bơm phải thắng mực nước động, chiều cao xả, tổn thất ống và áp yêu cầu tại điểm dùng.
Trả lời ngắn: hãy tính TDH theo mực nước động tại đúng lưu lượng cần bơm, không lấy mực tĩnh, độ sâu thả bơm hoặc tổng sâu giếng làm cột áp. Ví dụ giếng sâu 80 m, mực động 31 m, xả cao 5 m, tổn thất 4 m, bình áp cần 2 bar thì TDH đúng là 60,4 m; tra catalog thấy 4SA8/12 cho 57 m tại 6,0 m³/h hơi thiếu, còn 4SA8/14 cho 67 m tại 6,0 m³/h hợp hơn.
Nếu đang khoanh loại máy theo đường kính giếng, lưu lượng và nguồn nước, đọc thêm bơm giếng khoan loại nào tốt. Sau khi đã có TDH, xem tiếp cách chọn công suất bơm giếng khoan để chuyển từ cột áp sang HP/kW và mã Q-H phù hợp. Nếu công trình cần kiểm thêm xuất xứ, hồ sơ và phụ tùng trước khi chốt hàng, xem bài vì sao bơm giếng khoan Đài Loan được công trình ưa chuộng.
Nếu đã tính xong TDH và muốn đi thẳng sang bước tra bảng, xem cách chọn bơm giếng khoan theo lưu lượng cột áp để chọn nhóm theo m³/h rồi chọn mã theo cột áp còn lại.
Cột áp bơm giếng khoan là gì?
Cột áp tổng/TDH là tổng lực bơm phải thắng, không phải độ sâu khoan
Cột áp tổng, thường gọi là TDH, là tổng năng lượng bơm phải tạo ra để đưa nước từ mực nước trong giếng tới nơi dùng. Với bơm giếng khoan, TDH gồm phần nâng nước từ mực nước động, phần đưa nước lên bồn hoặc điểm xả, phần mất áp trên đường ống và phần áp yêu cầu nếu cấp cho bình áp, tưới phun hoặc tuyến có áp.
Vì vậy một giếng khoan sâu 80 m không có nghĩa phải chọn bơm cột áp 80 m. Nếu mực nước động khi bơm chạy nằm ở 31 m và điểm xả chỉ cao hơn mặt đất 5 m, phần nâng nước thực tế không bắt đầu từ đáy giếng. Độ sâu khoan giúp biết khoảng không gian đặt bơm, khoảng cách đáy và rủi ro cát, nhưng không phải con số đưa thẳng vào TDH.
Vì sao phải tính tại đúng lưu lượng m³/h
Bảng Q-H của bơm không phải một con số duy nhất. Cùng một model, lưu lượng tăng thì cột áp còn lại giảm. Chọn theo Hmax tại Q = 0 giống như nhìn khả năng "đẩy khi gần khóa van", không phải điểm máy đang cấp nước thật.
Muốn chọn đúng, phải nói đủ cặp m³/h và m. Ví dụ cần 6,0 m³/h ở 60,4 m khác hẳn cần 2,0 m³/h ở 60,4 m. Đó là lý do bài cách chọn máy bơm theo lưu lượng và cột áp luôn bắt đầu bằng Q-H, còn bài này áp dụng riêng cho giếng khoan với mực nước động.
Lấy độ sâu nào để tính: mực tĩnh, mực động hay độ sâu thả bơm?
Mực nước tĩnh chỉ để tham khảo
Mực nước tĩnh là khoảng cách từ miệng giếng xuống mặt nước khi chưa bơm hoặc giếng đã nghỉ đủ lâu. Con số này giúp đánh giá trữ lượng và mức hồi nước, nhưng không phản ánh trạng thái làm việc. Khi bơm chạy, mực nước tụt xuống do nước bị hút ra nhanh hơn tốc độ hồi tại một thời điểm.
Nếu lấy mực tĩnh để chọn bơm, cột áp thường bị tính thấp. Máy có thể chạy được lúc đầu, nhưng khi mực nước tụt về mực động, lưu lượng giảm, bình áp lâu đầy hoặc nước lên yếu.
Mực nước động mới là số đưa vào TDH
Mực nước động là khoảng cách từ miệng giếng đến mặt nước khi bơm đang chạy ở lưu lượng thử. Đây là số phải đưa vào TDH. Nếu giếng thử ở 6 m³/h và mực động ổn định tại 31 m, hãy dùng 31 m, không dùng mực tĩnh 20 m.
Điểm quan trọng là mực động luôn đi kèm lưu lượng thử. Nói "mực động 31 m" mà không nói tại 6 m³/h thì chưa đủ. Cùng giếng đó, chạy ít nước hơn có thể mực tụt ít hơn; chạy nhiều nước hơn có thể tụt sâu hơn.
Độ sâu thả bơm dùng để kiểm độ ngập, cáp, ống và khoảng cách đáy
Độ sâu thả bơm là vị trí đặt máy dưới mặt đất, ví dụ 62 m. Con số này dùng để kiểm bơm có nằm dưới mực nước động đủ xa không, có cách đáy giếng đủ để tránh hút cát không, chiều dài ống/cáp có đủ không và thân bơm có thả vừa đoạn giếng thẳng không.
Thả bơm sâu hơn không làm TDH tự tăng bằng đúng độ sâu thả. Nước bắt đầu được nâng từ mực nước động, không phải từ vị trí motor nằm dưới nước. Thả sâu quá mức chỉ làm tốn ống, cáp, khó kéo bơm và tăng rủi ro gần đáy cát.
Công thức tính cột áp tổng cho bơm giếng khoan
TDH = mực nước động + chiều cao xả + tổn thất ống + áp yêu cầu
Công thức hiện trường có thể viết gọn:
TDH = H động + H xả + H tổn thất + H áp yêu cầu
Trong đó H động là mực nước động tính từ miệng giếng, H xả là chiều cao từ miệng giếng/mặt đất lên bồn hoặc điểm xả, H tổn thất là mất áp do ống, co, van, lọc, đồng hồ, và H áp yêu cầu là áp còn cần tại vòi, bình áp hoặc hệ tưới.
Xả bồn hở: áp yêu cầu = 0 m
Nếu bơm chỉ đẩy lên bồn hở, nước xả tự do vào bồn và không cần giữ áp tại đầu ra, H áp yêu cầu có thể lấy 0 m. Khi đó TDH chủ yếu gồm mực nước động, chiều cao lên bồn và tổn thất ống.
Tuy nhiên "bồn hở" không có nghĩa bỏ qua tổn thất. Ống nhỏ, dài, nhiều co, van một chiều và lọc cặn vẫn làm mất áp. Với giếng sâu, sai vài mét có thể khiến máy chạy sát vùng cuối đường đặc tính.
Cấp bình áp/tưới: phải đổi bar sang mét cột nước
Nếu cấp bình áp hoặc tưới phun, phải cộng áp yêu cầu vào TDH. Quy đổi chuẩn:
1 bar = 100.000 Pa; h = P/(ρg) = 100.000/(1000 × 9,80665) = 10,197 m, làm tròn 1 bar ≈ 10,2 m cột nước. Vì vậy 2 bar ≈ 20,4 m.
Đây là lỗi hay gặp: giếng không quá sâu nhưng người dùng cần áp tại đầu vòi, rồi lại quên cộng phần áp đó. Kết quả là bơm lên nước nhưng bình áp lâu đạt áp hoặc tưới phun yếu ở cuối tuyến.
Bảng worksheet số liệu cần đo trước khi chọn bơm
Tổng sâu giếng, mực tĩnh, mực động, lưu lượng thử
Trước khi hỏi model, hãy ghi dữ liệu bằng bảng. Càng ít số đo, người bán càng dễ chọn theo cảm giác. Mực nước động tại lưu lượng thử là dòng quan trọng nhất.
| Dữ liệu cần đo | Ví dụ hiện trường | Dùng để làm gì |
|---|---|---|
| Tổng sâu giếng | 80 m | Biết đáy giếng, khoảng thả và rủi ro cát |
| Mực nước tĩnh | 20 m | Tham khảo khả năng hồi nước |
| Mực nước động tại lưu lượng thử | 31 m tại 6 m³/h | Đưa vào TDH |
| Độ sâu thả bơm | 62 m | Kiểm độ ngập, khoảng cách đáy, cáp và ống |
| Chiều cao xả | 5 m | Cộng vào TDH |
| Tổn thất ống/co/van | 4 m | Cộng vào TDH |
| Áp yêu cầu | 2 bar = 20,4 m | Cộng nếu cấp bình áp/tưới |
Chiều cao xả, chiều dài ống, DN ống, co/van/lọc
Chiều cao xả là khoảng từ miệng giếng hoặc mặt đất tới điểm cao nhất hoặc điểm cần cấp nước. Chiều dài ống là toàn bộ tuyến đẩy, gồm đoạn trong giếng và đoạn ngang/đứng sau miệng giếng. DN ống, số co, van một chiều, van khóa, lọc cặn và đồng hồ đều ảnh hưởng tổn thất.
Nếu chưa tra được tổn thất chính xác, có thể ước tính sơ bộ cho hệ đơn giản. Nhưng với giếng sâu, ống dài hoặc lưu lượng lớn, cộng kiểu "thêm 20%" rất dễ sai: ống nhỏ làm tổn thất tăng mạnh, còn ống quá lớn có thể tốn chi phí lắp đặt mà không giải quyết đúng điểm vận hành.
Áp yêu cầu tại điểm dùng và nguồn điện
Áp yêu cầu phải hỏi bằng đơn vị rõ: bar tại bình áp, đầu vòi hoặc cụm tưới. Sau đó đổi sang mét cột nước để cộng vào TDH. Nguồn điện cũng phải ghi sớm: 1 pha hay 3 pha, điện áp có ổn định không, có tủ bảo vệ hay chưa.
Với hệ giếng khoan công suất lớn, phần tủ điện không phải chuyện phụ. Bảo vệ mất pha, quá tải và chống chạy khô giúp tránh cháy motor khi giếng tụt nước hoặc điện áp không ổn. Có thể xem nhóm tủ điện phụ kiện khi cần cấu hình điều khiển.
Cách cộng tổn thất đường ống mà không lạm dụng “cộng 20%”
Khi nào được ước tính sơ bộ
Ước tính sơ bộ chỉ nên dùng ở giai đoạn hỏi nhanh: giếng không quá sâu, tuyến ống ngắn, lưu lượng nhỏ, ít co/van và chưa cần chốt model cuối. Khi đó người kỹ thuật có thể lấy một mức dự phòng để khoanh nhóm bơm, rồi yêu cầu bổ sung số khi gần chốt.
Ví dụ hệ gia đình bơm 1-2 m³/h lên bồn hở, ống không quá dài, có thể khoanh vùng nhóm 2SS/2.5SS/3SS trước. Nhưng nếu đã cấp bình áp, tưới nhiều nhánh hoặc dùng giếng 4 inch lưu lượng 6 m³/h, nên tính tổn thất theo DN ống, chiều dài và số co/van.
Khi nào bắt buộc tra tổn thất theo DN, chiều dài, lưu lượng
Bắt buộc tra kỹ khi lưu lượng lớn, ống dài, đường kính nhỏ, có nhiều co/van/lọc, hoặc TDH tính ra nằm sát hai model. Trong ví dụ dưới, chênh giữa 4SA8/12 và nhu cầu chỉ 3,4 m ở chiều thiếu; nếu tổn thất ước sai thêm vài mét, chọn nhầm là rất dễ.
Đừng dùng một tỷ lệ phần trăm cố định cho mọi giếng. Mất áp không tăng tuyến tính đơn giản theo cảm giác; nó phụ thuộc mạnh vào lưu lượng, đường kính, vật liệu ống và phụ kiện. Cách chắc nhất là gửi DN ống, chiều dài, số co/van để kỹ thuật tính lại.
Ví dụ tính đầy đủ: giếng 80 m cấp bình áp 2 bar
Tính TDH bằng mực nước động
Đề bài: giếng khoan sâu 80 m, thả bơm ở 62 m, mực tĩnh 20 m, mực động khi chạy 6 m³/h là 31 m. Điểm xả cao hơn mặt đất 5 m, tổn thất ống/co/van 4 m, hệ cần áp 2 bar.
Quy đổi áp: 2 bar = 20,4 m. TDH đúng:
31 + 5 + 4 + 20,4 = 60,4 m
| Cách lấy "độ sâu" | Phép tính | Kết quả | Sai lệch so với TDH đúng |
|---|---|---|---|
| Đúng: lấy mực động | 31 + 5 + 4 + 20,4 | 60,4 m | 0 m |
| Sai: lấy mực tĩnh | 20 + 5 + 4 + 20,4 | 49,4 m | Thiếu 11 m |
| Sai: lấy độ sâu thả bơm | 62 + 5 + 4 + 20,4 | 91,4 m | Dư giả tạo 31 m |
| Sai: lấy độ sâu khoan | 80 + 5 + 4 + 20,4 | 109,4 m | Dư giả tạo 49 m |
So sai số nếu lấy mực tĩnh, độ sâu thả bơm hoặc độ sâu khoan
Lấy mực tĩnh làm cột áp sẽ chọn thiếu áp. Máy có thể đạt lúc giếng mới nghỉ, nhưng khi mực nước tụt về 31 m thì thiếu khoảng 11 m so với nhu cầu thật. Dấu hiệu ngoài hiện trường là nước lên yếu, bình áp lâu đầy, hoặc lưu lượng giảm khi bơm chạy lâu.
Lấy độ sâu thả bơm hoặc tổng sâu khoan lại làm dư giả tạo. Người mua có thể chọn model quá nhiều tầng cánh, công suất lớn hơn nhu cầu và chạy lệch vùng tốt. Bơm giếng khoan không được chọn bằng "càng sâu càng chắc"; nó phải khớp TDH tại lưu lượng đang cần.
Tra Q-H thật để chọn mã
Giếng ví dụ là 4 inch, cần 6,0 m³/h, nên xem nhóm 4SA/4SP. Xem bảng đầy đủ tại bơm giếng khoan Perotac 4SA và bơm giếng khoan Aquaris 4SP.
| Mã bơm | Điểm Q-H theo tài liệu kỹ thuật của hãng | So với TDH 60,4 m |
|---|---|---|
| 4SA8/12 | 4SA8/12 cho 57 m tại 6,0 m³/h | Thiếu 3,4 m |
| 4SA8/14 | 4SA8/14 cho 67 m tại 6,0 m³/h | Dư 6,6 m |
Kết luận: nếu dữ liệu hiện trường đúng, 4SA8/14 hợp hơn 4SA8/12 vì có biên cột áp vừa đủ. Với nhãn Aquaris, dòng 4SP có bảng Q-H riêng, cột áp thấp hơn 4SA ở cùng số tầng cánh, nên phải tra lại điểm này ở nhóm Aquaris 4SP chứ không dùng số của 4SA.
Tra bảng Q-H: không chọn theo kW hoặc Hmax tại Q=0
Đọc đúng dòng lưu lượng
Khi mở bảng Q-H, hãy tìm đúng cột lưu lượng trước. Nếu cần 6,0 m³/h, đọc cột 6,0 m³/h; nếu cần 24 m³/h, đọc cột 24 m³/h. Không lấy cột đầu tiên Q = 0 vì đó là Hmax khi không có lưu lượng thực.
Xem vài mốc đối chiếu theo tài liệu kỹ thuật của hãng:
| Nhóm/mã | Điểm Q-H mẫu | Trang dòng có bảng đầy đủ |
|---|---|---|
| 2SS giếng Ø60 | 2SSM0.7/32 cho 29 m tại 0,6 m³/h; 2SSM0.7/38 cho 34 m tại 0,6 m³/h | Perotac 2SS/2.5SS |
| 4SA/4SP giếng Ø110-114 | 4SA8/12 cho 57 m tại 6,0 m³/h; 4SA8/14 cho 67 m tại 6,0 m³/h | Perotac 4SA, Aquaris 4SP |
| 6SA giếng Ø160-168 | 6SA25/6 cho 58 m tại 24 m³/h; 6SA25/8 cho 78 m tại 24 m³/h | Perotac 6SA |
So mã thiếu áp và mã đủ áp
Nếu TDH cần 60,4 m, một mã cho 57 m tại đúng lưu lượng là thiếu, dù Hmax của nó có thể nhìn đẹp. Một mã cho 67 m tại đúng lưu lượng có biên 6,6 m, phù hợp hơn. Biên cột áp nên đủ để bù sai số đo và ống bẩn dần, nhưng không nên dư quá lớn đến mức máy chạy lệch vùng tốt.
Với giếng nhỏ Ø60, ví dụ cần 0,6 m³/h quanh 30 m, 2SSM0.7/32 cho 29 m tại 0,6 m³/h hơi sát hoặc thiếu nhẹ, còn 2SSM0.7/38 cho 34 m tại 0,6 m³/h có biên tốt hơn. Đây là cách đọc Q-H cần dùng cho mọi nhóm, từ 2SS tới 6SA.
Chọn nhóm bơm theo đường kính giếng sau khi đã có TDH
2SS/2.5SS cho Ø60/Ø75
Sau khi có Q và TDH, mới quay lại kiểm đường kính giếng. Nhóm 2SS dùng cho giếng Ø60, lưu lượng danh nghĩa 0,7 m³/h, Hmax tới 51 m. Nhóm 2.5SS dùng cho giếng Ø75, lưu lượng danh nghĩa 1,5 m³/h, Hmax tới 84 m. Xem chi tiết tại bơm giếng khoan Perotac 2SS/2.5SS.
3SS cho Ø90
Giếng Ø90 dùng nhóm 3SS. Dòng này chia nhóm 2/3/4 m³/h, Hmax tới 196 m theo tài liệu kỹ thuật của hãng. Nó hợp cho nhà dân, trang trại vừa hoặc giếng 3 inch cần nhiều lựa chọn cột áp hơn 2SS/2.5SS.
4SA/4SP cho Ø110-114
Giếng Ø110-114 là vùng phổ biến của bơm 4 inch. Perotac dùng mã 4SA, Aquaris dùng mã 4SP; hai dòng cùng nền tảng kỹ thuật nhưng KHÔNG cùng bảng số Q-H, mỗi dòng phải tra bảng của chính nó. Nhóm lưu lượng gồm 2/3/4/6/8/10/12/16 m³/h, Hmax tới 453 m. Nếu đang tìm nền cấu tạo và mapping dòng, xem bài bơm giếng khoan là gì.
6SA cho Ø160-168
Giếng Ø160-168 dùng nhóm 6 inch Perotac 6SA. Dòng này có nhóm 15/25/35/45/60 m³/h, công suất 3-37 kW, Hmax tới 345 m. Ở cỡ này, phải kiểm nguồn điện đúng model, tủ bảo vệ mất pha/quá tải/chống chạy khô và khả năng kéo bơm bảo trì.
| Đường kính giếng | Nhóm nên xem | Mốc theo tài liệu kỹ thuật của hãng | Link đối chiếu |
|---|---|---|---|
| Ø60 | 2SS | 0,7 m³/h danh nghĩa, Hmax 51 m | 2SS/2.5SS |
| Ø75 | 2.5SS | 1,5 m³/h danh nghĩa, Hmax 84 m | 2SS/2.5SS |
| Ø90 | 3SS | Nhóm 2/3/4 m³/h, Hmax 196 m | 3SS |
| Ø110-114 | 4SA/4SP | Nhóm 2/3/4/6/8/10/12/16 m³/h, Hmax 453 m | 4SA, 4SP |
| Ø160-168 | 6SA | Nhóm 15/25/35/45/60 m³/h, 3-37 kW, Hmax 345 m | 6SA |
Sai lầm thường gặp khi tính cột áp bơm hỏa tiễn
Lấy tổng chiều sâu khoan làm cột áp
Đây là lỗi phổ biến nhất. Giếng sâu 80 m nhưng mực động 31 m thì phần nâng nước bắt đầu từ 31 m, không phải đáy giếng. Lấy 80 m làm cột áp trong ví dụ tạo ra TDH 109,4 m, dư giả tạo 49 m so với cách tính đúng.
Lấy mực nước tĩnh thay mực nước động
Mực tĩnh 20 m làm TDH ví dụ chỉ còn 49,4 m, thiếu 11 m so với TDH đúng 60,4 m. Bơm chọn theo số này dễ hụt áp khi giếng tụt nước lúc chạy liên tục.
Quên áp bình áp/tưới
Hệ cần 2 bar phải cộng thêm 20,4 m vào TDH. Nếu bỏ qua, máy có thể lên nước nhưng không đạt áp sử dụng. Với tưới phun, tưới nhỏ giọt có lọc hoặc bình áp, phần áp yêu cầu đôi khi lớn hơn chiều cao xả.
Chọn theo cột áp tối đa
Hmax chỉ là mốc tại Q gần bằng 0 m³/h. Chọn theo Hmax khiến người mua tưởng máy dư áp, nhưng tại lưu lượng cần thì cột áp có thể thấp hơn nhiều. Hãy buộc mọi tư vấn đi về mẫu: model nào cho bao nhiêu mét tại bao nhiêu m³/h.
Nếu đã lắp và gặp lỗi nước không lên, lưu lượng yếu hoặc bình áp lâu đầy, xem thêm bài bơm giếng khoan không lên nước để khoanh sự cố theo điện, van, tụ, cánh, mực nước và điểm Q-H.
Checklist gửi kỹ thuật để đối chiếu model
Hãy gửi đủ dữ liệu theo thứ tự sau để kỹ thuật không phải đoán:
- Đường kính trong ống vách giếng: Ø60, Ø75, Ø90, Ø110-114 hay Ø160-168.
- Tổng sâu giếng, mực nước tĩnh và mực nước động tại lưu lượng thử.
- Lưu lượng cần dùng tính bằng m³/h.
- Chiều cao xả từ miệng giếng tới bồn, bình áp hoặc điểm tưới.
- Chiều dài ống, DN ống, vật liệu ống, số co, van một chiều, van khóa, lọc.
- Áp yêu cầu tại điểm dùng, ví dụ 2 bar hoặc mốc vận hành của bình áp.
- Nguồn điện 1 pha/3 pha, chiều dài cáp, tủ bảo vệ và yêu cầu chống chạy khô.
- Độ sâu dự kiến thả bơm và khoảng cách an toàn tới đáy giếng.
Khi chuyển từ tính chọn sang lắp thực tế, đọc thêm bài cách lắp đặt bơm giếng khoan đúng kỹ thuật. Bài đó tập trung vào dây cáp, ống, van một chiều, kẹp cáp, độ sâu thả và chạy thử sau khi đã chốt model.
Khi đã tính xong cột áp, đối chiếu mã Perotac 3SS cho giếng hẹp phi 76 tại đúng lưu lượng.
Câu hỏi thường gặp
Giếng sâu 80 m có phải chọn bơm cột áp 80 m không?
Không mặc định. Cột áp chọn bơm phải tính từ mực nước động, cộng chiều cao xả, tổn thất ống và áp yêu cầu. Trong ví dụ, giếng sâu 80 m nhưng TDH đúng là 60,4 m.
Nên dùng mực nước tĩnh hay mực nước động?
Dùng mực nước động tại đúng lưu lượng thử. Mực nước tĩnh chỉ để tham khảo khả năng hồi nước. Nếu lấy mực tĩnh, rất dễ chọn thiếu áp khi bơm chạy lâu.
1 bar bằng bao nhiêu mét cột nước?
1 bar ≈ 10,2 m cột nước. Vì vậy bình áp hoặc hệ tưới cần 2 bar thì cộng khoảng 20,4 m vào TDH.
Thả bơm sâu hơn có cần cộng thêm vào TDH không?
Không cộng nguyên độ sâu thả bơm vào TDH. Độ sâu thả bơm dùng để kiểm độ ngập, khoảng cách đáy, chiều dài cáp/ống và khả năng bảo trì. Cột áp nâng nước bắt đầu từ mực nước động.
Có nên cộng thêm 20% tổn thất cho nhanh không?
Chỉ nên dùng để khoanh sơ bộ hệ đơn giản. Khi ống dài, lưu lượng lớn, nhiều co/van hoặc điểm chọn nằm sát giữa hai model, phải tính tổn thất theo DN, chiều dài và lưu lượng.
Chọn bơm giếng khoan theo kW có được không?
Không nên. kW chỉ là công suất motor, không nói máy còn bao nhiêu mét cột áp tại lưu lượng cần. Hãy chọn theo Q-H trước, sau đó mới kiểm công suất, nguồn điện và đường kính giếng.
Kết luận
Tính cột áp bơm giếng khoan đúng là tính TDH từ mực nước động, chiều cao xả, tổn thất đường ống và áp yêu cầu, rồi tra Q-H tại đúng lưu lượng. Độ sâu khoan và độ sâu thả bơm vẫn quan trọng, nhưng chúng dùng để kiểm giếng, cáp, ống và độ ngập, không thay cho TDH.
Bạn có thể xem nhóm bơm giếng khoan cánh nhựa, bơm giếng khoan inox, các trang dòng ở trên, hoặc gửi mực tĩnh, mực động, lưu lượng, chiều cao xả, DN ống và áp yêu cầu qua trang liên hệ. Kỹ thuật sẽ đối chiếu TDH và bảng Q-H trước khi khoanh model phù hợp.
