Tối mưa lớn, kỹ thuật tòa nhà xuống hầm. Tủ điện báo máy đang chạy, tiếng máy ù đều trong hố gom, nhưng nước trong hố vẫn dâng và ống đẩy ra cống ngoài đường vẫn khô. Câu hỏi lúc đó rất đơn giản: máy bơm đẩy nước thải đã chạy rồi, sao nước không lên cống?
Trả lời ngắn: Máy bơm đẩy nước thải lên cống cao chạy mà nước không lên thường do một trong bốn nhóm: rác kẹt cánh hoặc nghẹt ống đẩy, van một chiều kẹt hoặc van cổng đóng, cột áp máy thấp hơn độ cao cộng tổn thất ống, hoặc máy 3 pha quay ngược. Kiểm theo thứ tự đó.
Motor quay chỉ cho biết phần điện còn sống. Máy có tạo ra dòng nước và đủ áp để leo lên cống hay không là câu chuyện của cánh, đường ống và bảng Q–H.
Máy bơm đẩy nước thải chạy mà không lên nước: bốn nhóm nguyên nhân
| Nhóm | Dấu hiệu nhìn thấy | Kiểm đầu tiên |
|---|---|---|
| Rác kẹt cánh, nghẹt ống đẩy | Máy ù nhưng nước ra rất ít hoặc không ra, bản 1 pha có thể tự ngắt bảo vệ nhiệt | Cắt điện, kéo máy lên, xem cánh và miệng hút |
| Van một chiều kẹt, van cổng chưa mở | Máy chạy, đồng hồ áp (nếu có) cao mà cống không có nước | Xem mũi tên van, mở van, tháo đĩa van |
| Thiếu cột áp | Hố vừa mới lắp xong hoặc vừa đổi đường ống, nước lên rất yếu hoặc đứng ở nửa đường | Đo chênh cao thật, tính tổn thất ống, so bảng Q–H |
| Máy 3 pha quay ngược | Mới đấu điện hoặc mới thay máy, máy chạy mà nước yếu | Nhờ thợ điện kiểm thứ tự pha |
Bảng này chỉ là thứ tự kiểm cho một hố gom có bơm chìm. Mỗi nhóm có một mục bên dưới.
Rác kẹt cánh và nghẹt ống đẩy: kéo máy lên xem trước
Nước thải hầm tòa nhà có giẻ, khăn ướt, túi nilon và xơ sợi. Những thứ đó cuốn quanh cánh hoặc chặn miệng hút thì cánh vẫn quay nhưng nước đứng yên. Nếu ống đẩy có đồng hồ áp, kim lên cao mà cống không có nước thì chỗ chặn thường nằm phía sau đồng hồ; kim chỉ rất thấp thì máy chưa tạo được áp, nên nhìn về cánh, mực nước và chiều quay.
Cách kiểm an toàn: ngắt điện và khóa aptomat, rồi mới kéo máy lên bằng xích hoặc dây treo, không kéo bằng dây cáp điện. Khi máy đã lên khỏi hố, xem miệng hút và cánh có bị giẻ, nilon chặn không, rồi xem đoạn ống ngay sau họng xả.
Catalog Perotac và Aquaris ghi cánh ba kiểu khác nhau, nên mức "nghẹt" cũng khác:
- Perotac WC (catalog trang 1/9): cánh xoáy bán hở có vòng cắt; vật rắn trong nước thải bị cánh và vòng cắt cắt trước khi bơm ra. Trang 3/9 có thêm dòng máy làm việc được trong nước có xơ sợi.
- Perotac SS (catalog trang 1/1): cánh hở, ghi phù hợp nước có xơ sợi.
- Aquaris FS (catalog trang 1/1): cánh đóng một kênh; vật rắn tới Ø38 mm (FS 75/40, 100/40, 150/40) và Ø50 mm (FS 200/50, 300/80).
Catalog Perotac WC và SS không ghi đường kính vật rắn lọt qua cánh. Muốn biết hố của bạn có khăn, giẻ dày hay không, hãy mô tả rác thật cho bên bán rồi nhờ họ xác nhận cho đúng dòng máy.
Nếu hố có giỏ chắn rác, hãy xem giỏ có đầy không. Giỏ đầy mà không ai lấy thì rác dồn về cánh; đó là chuyện vận hành chứ chưa chắc máy có lỗi.
Van một chiều và van cổng: nước bị chặn ở ống chứ không ở máy
Đường đẩy lên cống cao thường có van một chiều để nước trong ống không chảy ngược về hố khi máy dừng. Van này có ba kiểu trục trặc:
- Lắp ngược chiều mũi tên: nước đi vào van theo chiều bị chặn.
- Đĩa van bị giẻ hoặc sỏi chặn nên chỉ mở một phần.
- Van cổng đặt sau van một chiều bị đóng từ lần bảo trì trước và quên mở.
Dấu hiệu: máy chạy, đồng hồ áp (nếu có) cao, nhưng cống không có nước. Cách kiểm: đóng van cổng, tháo nắp van một chiều xem đĩa, xoay mũi tên về đúng chiều nước chảy từ máy ra cống, mở lại van cổng rồi cho chạy thử.
Đường đẩy dài và có chỗ gấp khúc cũng giữ không khí. Mở van xả khí (nếu có) hoặc cho máy chạy ngắt quãng vài lần để khí thoát ra.
Máy 3 pha quay ngược: chạy mà nước yếu
Máy 3 pha đấu sai thứ tự pha sẽ quay ngược chiều. Động cơ vẫn chạy, tủ điện im lặng, nhưng cánh đẩy nước yếu hơn nhiều nên nước dừng giữa đường lên cống cao. Dấu hiệu để nghi: mới đấu điện hoặc mới thay máy mà nước ra yếu.
Chuyện đảo pha là của máy 3 pha. Catalog Perotac WC ghi bản WC là 3 pha 380–415 V, bản WCD là 1 pha 220–240 V; catalog SS ghi mã SS là 3 pha và mã SSM…F là 1 pha. Máy bản một pha thì bỏ qua nhóm này.
Catalog hai dòng này không ghi cách kiểm chiều quay của máy chìm. Cách kiểm đúng nên hỏi bên bán hoặc đọc hướng dẫn kèm máy. Nếu hướng dẫn của hãng cho phép, thợ điện có thể so lưu lượng trước và sau khi đổi chỗ hai trong ba dây pha; việc này chỉ làm khi đã ngắt điện hoàn toàn.
Thiếu cột áp: độ cao cộng tổn thất ống, rồi mới so bảng Q–H
Đây là nhóm dễ bị bỏ sót nhất vì máy còn nguyên vẹn. Cột áp cần = chênh cao từ mực nước thấp nhất trong hố tới điểm xả cao nhất + tổn thất trên đường ống. Tổn thất phụ thuộc đường kính ống, chiều dài, số co, loại van và lưu lượng; không có một tỷ lệ quy đổi cố định đúng cho mọi ống, nên con số này nên lấy từ bản tính của đường ống thật.
Rồi so cột áp cần với đường đặc tính của máy tại cùng lưu lượng. Bảng 65WC của Perotac (catalog "Bơm cắt rác WC", trang 3/9) ghi cột áp H theo m³/h. Hàng 1,5 kW (65WC25-10-1.5) đọc theo cột:
| Lưu lượng (m³/h) | 0 | 5 | 10 | 15 | 20 | 25 | 30 | 35 |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| H, 65WC25-10-1.5 (m) | 15 | 15 | 15 | 14 | 12 | 10 | 6 | 1 |
Cột Q = 0 là cột áp khi chưa có nước chảy ra khỏi ống đẩy. Nếu chênh cao thật lớn hơn con số ở ô đó, máy chạy mà cống vẫn khô. Từ 25 m³/h trở đi cột áp tụt nhanh: tại 30 m³/h còn 6 m, tại 35 m³/h còn 1 m.
Ví dụ (giả định, chỉ để minh họa cách đọc): hố cần 20 m³/h, chênh cao 9 m, tổn thất ống đã tính ra 3 m, vậy cột áp cần 12 m. Tại 20 m³/h:
| Mã | H tại 20 m³/h (m) | So với 12 m cần |
|---|---|---|
| 65WC25-10-1.5 (1,5 kW) | 12 | vừa bằng, không dư |
| 65WC25-15-2.2 (2,2 kW) | 17 | dư 5 m |
| 65WC35-15-3 (3 kW) | 20 | dư 8 m |
Mã 1,5 kW vừa chạm 12 m, nghĩa là chỉ cần ống thực tế dài hơn hoặc nhiều co hơn dự tính là lưu lượng rơi khỏi 20 m³/h. Đây là chuyện máy "chạy mà nước yếu". Không nội suy giữa hai ô; nếu cần điểm nằm giữa, hãy hỏi bên bán đường cong đầy đủ.
Một lưu ý khi đọc đầu trang 3/9: dòng "Max. flow rate" 65 m³/h và "Max. head" 45 m thuộc hai đầu khác nhau của đường cong. Ví dụ mã 7,5 kW ở hàng cuối bảng có 45 m tại Q = 0 và còn 6 m tại 65 m³/h. Đừng ghép hai số đó thành một điểm làm việc.
Bơm chìm có "mất nước mồi" như bơm đặt cạn không
"Mất nước mồi" là chuyện của bơm đặt cạn có ống hút: ống hút lọt khí, van chân kẹt thì bơm không hút được nước. Bơm chìm nằm sẵn trong nước khi mực nước đủ cao, nên cách mồi nước của bơm đặt cạn không áp dụng; nguyên nhân của bơm chìm nằm ở bốn nhóm bên trên.
Chuyện gần nhất với bơm chìm là mực nước trong hố tụt xuống quá thấp và máy hút khí. Catalog Aquaris FS ghi mực bơm tối thiểu 10 cm cao hơn thân máy (trang 1/1). Catalog Perotac WC và SS không ghi mức này; catalog SS ghi mã có thể kèm phao. Chỉnh phao sao cho máy ngắt trước khi mực xuống dưới thân máy.
Chọn máy bơm đẩy nước thải cho hố gom hầm lên cống cao
| Dòng | Catalog ghi | Hợp khi |
|---|---|---|
| Perotac WC (trang 1/9, 3/9) | Cánh xoáy bán hở có vòng cắt; 3 pha WC, 1 pha WCD; 0–40 °C; trang 65WC (3/9): họng DN65, 1,5–7,5 kW | Hố gom có rác cần cắt trước khi bơm lên cống |
| Perotac SS (trang 1/1) | Cánh hở; nước có xơ sợi; đến +50 °C; có thể kèm phao | Hố cần cánh hở, muốn kèm phao theo máy |
| Aquaris FS (trang 1/1) | Chế tạo bằng AISI 304; cánh đóng một kênh; 50 °C; 0,55–2,2 kW | Nước thải nhẹ, cột áp cần thấp; 15,5 m là cột áp khi chưa ra nước (Q = 0) của FS 300/80, phải đọc bảng tại đúng lưu lượng cần |
Hố móng công trình có bùn cát thì xem dòng KTZ của Perotac trong bài KTZ22.2 hay KTZ32.2, đọc điểm Q–H. Muốn đọc kỹ mã WC cho hầm tòa nhà, đọc bài đọc mã 65WC25-15-2.2.
Một hố gom nên có hai máy luân phiên hay một máy là quyết định thiết kế của từng công trình; catalog Perotac và Aquaris không ghi quy định này. Bài một máy hay hai máy trình bày cách tính theo thời gian hố đầy.
Sáu lỗi khiến máy bơm đẩy nước thải chạy mà nước không lên
- Tăng công suất khi thực ra nghẹt: thay máy lớn hơn mà cánh vẫn bị giẻ chặn thì nước vẫn kẹt ở hố. Kéo máy lên xem cánh trước khi đổi máy.
- Coi máy chạy là máy còn tốt: motor quay chưa chứng minh cánh đang tạo áp.
- Kéo máy bằng dây cáp điện: dễ đứt cáp, hở điện. Dùng xích hoặc dây treo.
- Chỉ đo chiều cao, quên tổn thất ống: ống dài, nhiều co, van hẹp có thể ăn mất vài mét cột áp.
- Ghép Q lớn nhất với H lớn nhất: mỗi cặp Q–H phải đọc cùng một cột của bảng.
- Đảo pha khi chưa ngắt điện: việc này thợ điện làm.
Nếu đã đi qua cả bốn nhóm mà nước vẫn yếu, đọc thêm bài sự cố bơm chìm nước thải inox và bài cách lắp đặt bơm chìm nước thải để rà lại ống đẩy và phao.
Câu cần hỏi trước khi mua máy mới
- Chênh cao thật từ mực nước thấp nhất trong hố tới điểm xả cao nhất là bao nhiêu mét?
- Ống đẩy dài bao nhiêu, đường kính bao nhiêu, mấy co, loại van nào? Tổn thất ống đã tính chưa?
- Lưu lượng cần là bao nhiêu m³/h, và máy đọc được cột áp ở đúng lưu lượng đó chưa?
- Nguồn điện là 1 pha hay 3 pha, để biết có cần kiểm chiều quay không?
- Rác trong hố là giấy, khăn ướt, giẻ hay túi nilon? Đưa mô tả này cho bên bán để họ xác nhận dòng máy.
Gửi các số trên qua trang liên hệ cùng mã máy hiện có, bên bán có thể đối chiếu đường cong catalog với hố của bạn.
Câu hỏi thường gặp về máy bơm đẩy nước thải lên cống cao
Máy bơm đẩy nước thải lên cống cao chạy mà không lên nước thì kiểm gì trước?
Kéo máy lên xem cánh và miệng hút có bị giẻ chặn không, rồi xem van một chiều và van cổng trên ống đẩy. Hai việc này nhanh nhất. Sau đó mới tính cột áp và nhờ thợ điện kiểm chiều quay nếu máy 3 pha.
Bơm chìm đẩy nước thải lên cống cao có bị mất nước mồi không?
Mất nước mồi là chuyện của bơm đặt cạn có ống hút. Bơm chìm cần kiểm mực nước trong hố, rác kẹt cánh, van và chiều quay.
Hố gom đẩy nước thải lên cống có bắt buộc hai máy không?
Số máy do thiết kế công trình quyết định; catalog Perotac và Aquaris không ghi quy định bắt buộc nào về số máy.
Máy 3 pha quay ngược thì máy chạy mà nước lên yếu, có đúng vậy không?
Dấu hiệu nhận ra là động cơ vẫn chạy mà nước ra yếu. Catalog WC và SS không ghi cách kiểm chiều quay, nên hãy hỏi bên bán; việc đảo pha do thợ điện làm khi đã ngắt điện.
