Bơm trục ngang cánh hở phù hợp hơn khi nước có cặn lơ lửng hoặc bùn mềm, với điều kiện rác dài đã được tách và đúng model có đường thông đủ lớn. Cát, sạn, tóc, giấy và giẻ cần được xét riêng vì chúng gây mòn, quấn cánh hoặc mắc ở cửa hút theo các cơ chế khác nhau. Nếu cần phần nguyên lý, xem bài bơm ly tâm trục ngang là gì.
Trả lời ngắn: Hãy dùng bơm trục ngang cánh hở cho nước thải đã tách rác, cặn nhỏ lơ lửng hoặc bùn loãng mà vật liệu bơm chịu được. Với tóc, giấy, giẻ, cát nhiều hoặc hạt lớn, cần tách rác trước và yêu cầu bên bán xác nhận đường thông cặn của đúng mã máy.
Bơm trục ngang cánh hở hợp cặn nhỏ nào?
Bơm trục ngang cánh hở là ứng viên cho lưu chất có cặn rời, cặn lơ lửng hoặc bùn mềm vì các cánh không bị bao kín ở cả hai phía. Kết cấu này tạo lối tiếp cận thuận tiện hơn khi cần lấy vật mắc ra khỏi bánh công tác.
Tên kiểu cánh chỉ mô tả cấu tạo. Nó chưa cho biết hạt lớn đến đâu có thể đi qua, nồng độ chất rắn cho phép, khả năng chịu mài mòn hay vật liệu có chịu được hóa chất hay không. Cách gọi dân dã “bơm cánh khế” cũng chưa đủ để chọn máy.
Một lưu chất có thể đưa vào bước sàng DWO khi đáp ứng các điều kiện sau:
- Cặn tồn tại dưới dạng hạt rời hoặc lơ lửng, thay vì tóc, dây, giẻ và bao bì dài.
- Bùn còn chảy được qua đường ống, chưa tạo bánh lắng đặc tại cửa hút.
- Thành phần cát và sạn được kiểm soát để hạn chế mài mòn cánh, buồng bơm và phớt.
- Vật liệu phần ướt đã được kiểm tra với độ mặn, độ axit, độ kiềm hoặc dung môi trong nước.
- Bên bán xác nhận bằng văn bản đường thông cặn của đúng mã máy đang chào.
Với nước sạch, nhóm bơm ly tâm trục ngang còn có các dòng cánh kín phù hợp hơn. Với nước lẫn cặn, nên chuyển sang bơm trục ngang cánh hở Perotac DWO để sàng theo lưu chất trước khi xét lưu lượng và cột áp.
Bảng tách cát, bùn mềm, cặn lơ lửng và rác sợi
Hình dạng cặn quyết định nguy cơ mắc hoặc mòn cánh rõ hơn tên gọi chung “nước bẩn”. Bảng dưới đây dùng để xác định bước xử lý trước bơm, chưa thay cho thông số đường thông cặn của từng mã.
| Thành phần trong nước | Có thể đưa vào bước sàng cánh hở? | Rủi ro chính | Việc nên làm trước khi chọn |
|---|---|---|---|
| Cặn nhỏ lơ lửng, hạt rời | Có, nếu lọt qua đường thông của đúng model | Mắc tại khe hoặc cửa hút khi hạt quá lớn | Gửi kích thước hạt lớn nhất và mẫu cặn cho bên bán |
| Bùn mềm, bùn loãng | Có điều kiện | Độ nhớt làm tăng sức cản, bùn lắng làm nghẹt cửa hút | Cung cấp tỷ trọng, độ nhớt, khả năng lắng và thời gian bơm |
| Cát, sạn, grit | Chỉ sàng khi hàm lượng được kiểm soát | Mài mòn mép cánh, buồng bơm và phớt | Bố trí hố lắng hoặc tách cát; hỏi vật liệu phần ướt |
| Tóc, dây, xơ, giẻ | Không nên đưa thẳng vào DWO | Quấn trục, quấn cánh hoặc mắc ở lối vào | Dùng song chắn, giỏ lọc hoặc chọn kiểu cánh dành cho rác sợi |
| Giấy vụn, bao bì mềm | Có nguy cơ cao nếu chưa tách | Vật mềm gấp lại thành búi và che cửa hút | Tách rác trước bơm và kiểm tra rác sau công đoạn sàng |
| Mảnh cứng có cạnh | Cần xác nhận theo đúng model | Va đập mép cánh, kẹt giữa cánh và thân | Gửi kích thước ba chiều, vật liệu và hình ảnh mảnh cặn |
| Nước có hóa chất | Chưa thể quyết định bằng kiểu cánh | Ăn mòn cánh, thân bơm, phớt và gioăng | Gửi thành phần, nồng độ và nhiệt độ để kiểm tra vật liệu |
Một hạt tròn và một dải giẻ có cùng bề ngang vẫn tạo rủi ro khác nhau. Hạt tròn có thể đi qua lối dòng nếu kích thước phù hợp; dải giẻ có thể gập, kéo dài rồi quấn vào trục. Vì vậy, chữ “cặn nhỏ” cần kèm hình dạng, độ cứng và khả năng kết búi.
Bùn loãng cũng chưa phải một thông số chọn bơm. Độ nhớt làm tăng sức cản trong ống, còn phần rắn lắng nhanh có thể tập trung ngay cửa hút. Người mua nên gửi mẫu hoặc bảng phân tích lưu chất thay vì chỉ ghi “bơm nước thải”.
Khi nào cần lưới tách rác trước bơm cánh hở?
Lưới hoặc song chắn nên đặt trước bơm khi nước có tóc, giấy, giẻ, dây nhựa, bao bì mềm hay mảnh rác dài. Cánh hở dễ tiếp cận khi vệ sinh, nhưng khoảng hở quanh cánh chưa biến máy thành bơm không tắc.
Có thể rà hệ thống theo trình tự sau:
- Quan sát rác giữ lại ở công đoạn trước bơm, chú ý vật dài, mềm và có khả năng cuộn thành búi.
- Lấy mẫu ở thời điểm tải cặn cao, trải cặn ra khay để phân biệt hạt rời với rác sợi.
- Chọn mắt lưới theo đường thông đã được xác nhận của đúng mã, đồng thời chừa phương án vệ sinh khi lưới đầy.
- Bố trí cửa lấy rác để người vận hành tiếp cận mà không phải tháo đường hút.
- Theo dõi chênh mực nước trước và sau lưới; khi dòng vào bị cản, vệ sinh lưới trước khi kết luận bơm thiếu lưu lượng.
Mắt lưới quá thưa để rác sợi đi vào bơm. Mắt lưới quá dày nhưng thiếu diện tích thoáng lại làm tăng tổn thất phía hút. Phương án phù hợp phải xét cả kích thước rác, lưu lượng vào và cách thu gom rác sau khi tách.
Nếu nước đã qua lưới nhưng vẫn có cát, bố trí vùng lắng trước cửa hút giúp giảm lượng hạt mài mòn đi qua cánh. Với bùn có khả năng lắng, hình dạng hố cần hạn chế vùng chết tích tụ cặn và cho phép xả vệ sinh.
Sàng mã Perotac DWO theo lưu lượng, cột áp và điện áp
Perotac DWO là dòng bơm ly tâm trục ngang cánh hở, nhập khẩu nguyên chiếc Đài Loan. Dòng này chưa có bảng Q–H theo từng điểm trong dữ liệu hiện có, nên các con số trên trang mã chỉ dùng để sàng phạm vi; muốn xác nhận máy chạy tại lưu lượng và cột áp yêu cầu phải xin đường đặc tính của đúng mã.
| Mã Perotac DWO | Thông số ghi trên trang mã | Điện nguồn | Mức niêm yết |
|---|---|---|---|
| DWO037M-0.37KW-220V | Trang mã ghi 6 m³/h và 12 m; công suất 0,37 kW | 1 pha / 220 V | 2.376.000 đ (đã gồm VAT) |
| DWO100M-0.75KW-220V | Trang mã ghi 18 m³/h và 12 m; công suất 0,75 kW | 1 pha / 220 V | 3.456.000 đ (đã gồm VAT) |
| DWO200M-1.5KW-220V | Trang mã ghi 42 m³/h và 18 m; công suất 1,5 kW | 1 pha / 220 V | 5.184.000 đ (đã gồm VAT) |
| DWO300T-2.2KW-380V | Trang mã ghi 57 m³/h và 21 m; công suất 2,2 kW | 3 pha / 380 V | 5.508.000 đ (đã gồm VAT) |
Các cặp lưu lượng và cột áp trong bảng là hai con số trang mã công bố, chưa được ghép thành một điểm vận hành. Chẳng hạn, trang mã DWO200M ghi 42 m³/h và 18 m, nhưng chưa đủ để kết luận hai trị số này thuộc cùng một điểm vận hành. Cần đường đặc tính để kiểm tra hai đại lượng tại cùng một điểm.
Trình tự sàng mã nên đi từ lưu chất đến thủy lực:
- Xác định cặn là hạt rời, bùn mềm hay rác sợi.
- Chốt kích thước hạt lớn nhất và yêu cầu xác nhận đường thông cặn.
- Tính lưu lượng cần bơm và cột áp của hệ thống.
- Chọn điện nguồn phù hợp với tủ điện tại nơi lắp.
- Xin đường đặc tính của mã còn lại và kiểm tra điểm vận hành.
- Xác nhận vật liệu phần ướt, phớt và điều kiện bảo hành bằng văn bản.
Công suất motor chỉ là một thông tin sàng lọc. Hai mã có công suất gần nhau vẫn có thể khác lưu lượng, cột áp, điện nguồn và khả năng đi qua cặn. Đổi từ bơm cũ sang DWO vì cùng kW sẽ bỏ qua cả đặc tính đường ống lẫn cấu trúc cặn.
Khe hở cánh mòn ảnh hưởng ra sao?
Khe hở giữa cánh và phần tĩnh tăng lên sẽ làm dòng chất lỏng rò tuần hoàn trong buồng bơm, khiến lưu lượng hoặc cột áp thực tế suy giảm. Cát và grit còn có thể mài mép cánh, mặt buồng bơm và phớt cơ khí.
Không có số liệu đủ để đặt một chu kỳ bảo dưỡng chung cho mọi mã DWO. Lịch kiểm tra nên dựa trên tính mài mòn của cặn, thời gian chạy và kết quả đo so với lúc nghiệm thu.
Khi phát hiện lưu lượng giảm, hãy kiểm tra theo thứ tự:
- Xem lưới tách rác và cửa hút có bị che hay không.
- Kiểm tra đường hút có lọt khí, van có mở đủ và bơm có được mồi đúng.
- Đo lại lưu lượng, áp suất hút, áp suất đẩy và dòng điện.
- So kết quả với biên bản chạy ban đầu ở cùng trạng thái van.
- Chỉ mở bơm kiểm tra cánh, khe hở và phớt sau khi đã loại trừ vấn đề của lưới và đường ống.
Nếu cánh có vết mòn lệch, cần tìm nguyên nhân từ hạt cứng, lệch trục hoặc dòng vào không đều trước khi thay cánh. Thay chi tiết nhưng giữ nguyên nguồn cát và điều kiện hút sẽ khiến hư hỏng lặp lại.
Kết luận: chọn DWO sau khi xác nhận đường thông cặn
Bơm trục ngang cánh hở phù hợp với nước thải đã tách rác, cặn nhỏ lơ lửng và bùn loãng có đặc tính đã xác định. Với tóc, giấy, giẻ hoặc cát nhiều, hãy bổ sung công đoạn tách rác, lắng cát hoặc đổi kiểu bơm theo thành phần thực tế.
Các mã DWO100M, DWO200M và DWO300T có thể đưa vào danh sách sàng theo điện nguồn và các con số trên trang mã; quyết định cuối cần đường đặc tính cùng xác nhận đường thông cặn. Gửi lưu lượng, cột áp, ảnh cặn, kích thước hạt và điện nguồn qua liên hệ để đối chiếu đúng mã.
Sau khi phân loại cặn và rác sợi, đọc tiếp cách chọn mã DWO 200, DWO 400 theo điện và thông số.
Câu hỏi thường gặp về bơm trục ngang cánh hở
Bơm trục ngang cánh hở dùng cho nước lẫn cặn nào?
Máy phù hợp để sàng cho nước có cặn nhỏ lơ lửng, hạt rời hoặc bùn mềm còn chảy được. Cần tách tóc, giấy, giẻ và xác nhận đường thông cặn của đúng mã trước khi đặt máy.
Bơm trục ngang cánh hở có bơm được tóc, giấy và giẻ không?
Không nên đưa tóc, giấy và giẻ thẳng vào bơm chỉ vì máy dùng cánh hở. Các vật dài, mềm có thể gập thành búi, quấn vào cánh hoặc che cửa hút; nên lắp song chắn hoặc chọn kết cấu chuyên xử lý rác sợi.
Chọn bơm trục ngang cánh hở cần gửi những thông tin gì?
Hãy gửi lưu lượng, cột áp, điện nguồn, thành phần chất lỏng, hình ảnh cặn, kích thước hạt lớn nhất, độ nhớt và khả năng ăn mòn. Với bùn hoặc nước có cát, bổ sung tỷ trọng, khả năng lắng và thời gian vận hành để kiểm tra vật liệu cùng phương án tiền xử lý.
