Muốn chọn máy bơm tưới sầu riêng hay máy bơm nước tưới sầu riêng, trước hết phải đếm số gốc thuộc khu tưới lớn nhất đang chạy, số béc trên mỗi gốc và lưu lượng của đúng loại béc. Kết quả phép nhân là lưu lượng tức thời của khu tưới, chưa phải mã bơm cuối cùng vì máy còn phải đáp ứng cột áp của tuyến bất lợi nhất.
Trả lời ngắn: Lấy số gốc tưới đồng thời nhân số béc mỗi gốc và lưu lượng danh định của một béc. Sau đó cộng áp suất béc, chênh cao và tổn thất đường ống để có cột áp tổng. Chỉ chọn model sau khi xác nhận điểm lưu lượng–cột áp và vùng vận hành phù hợp với hệ thống.
Máy bơm tưới sầu riêng phải tính theo khu đang chạy
Con số cần dùng là số gốc của khu tưới đồng thời lớn nhất, không phải tổng số gốc toàn vườn. Nếu hệ thống chia van để lần lượt tưới từng khu, máy bơm chỉ phải cấp cho số béc đang mở trong một lần vận hành.
Ba dữ liệu phải ghi tại vườn gồm:
- Số gốc trong khu lớn nhất sẽ mở van cùng lúc.
- Số béc lắp cho mỗi gốc trong khu đó.
- Lưu lượng của một béc tại đúng áp suất làm việc.
Lưu lượng ghi trên béc cần đi kèm điều kiện áp suất. Khi áp tại đầu béc thay đổi, lưu lượng và bán kính phun cũng thay đổi; lấy một con số trên quảng cáo mà bỏ điều kiện áp sẽ làm phép tính đầu vào mất giá trị.
Một trang hướng dẫn hệ thống tưới sầu riêng liệt kê béc trong khoảng 90–250 L/h và bán kính 2–4 m. Một cấu hình khác lại có các lựa chọn 30, 50 hoặc 100 L/h. Các mức này cho thấy béc tưới có nhiều cỡ, chứ không tạo thành một định mức chung cho mọi vườn.
Khi béc đã sử dụng lâu, nên đo lưu lượng thực tế tại một số vị trí đầu, giữa và cuối tuyến. Với béc đang dùng, hãy đối chiếu kết quả đo với dữ liệu của đúng mã béc tại áp suất đo; đừng tự coi lưu lượng trên tem là kết quả thực tế ở mọi vị trí.
Công thức tính lưu lượng máy bơm tưới sầu riêng theo số gốc
Lưu lượng thiết kế của khu tưới đồng thời được tính trực tiếp từ số gốc, số béc trên mỗi gốc và lưu lượng mỗi béc.
Lưu lượng khu tưới = số gốc đang tưới × số béc mỗi gốc × lưu lượng một béc
Nếu lưu lượng béc ghi bằng L/h, kết quả ban đầu cũng là L/h. Đổi sang m³/h bằng cách chia cho 1.000. Theo phép quy đổi thông dụng trong tài liệu về máy bơm, 1 m³/h tương đương khoảng 16,67 L/phút.
Giả sử một vườn chia thành nhiều khu, mỗi gốc lắp 2 béc và béc được chọn có lưu lượng danh định 120 L/h tại áp suất làm việc. Bảng sau cho thấy lưu lượng thay đổi theo số gốc mở nước cùng lúc:
| Số gốc đang tưới | Số béc mỗi gốc | Tổng số béc | Lưu lượng mỗi béc | Tổng lưu lượng | Lưu lượng quy đổi |
|---|---|---|---|---|---|
| 36 gốc | 2 béc/gốc | 72 béc | 120 L/h | 8.640 L/h | 8,64 m³/h |
| 48 gốc | 2 béc/gốc | 96 béc | 120 L/h | 11.520 L/h | 11,52 m³/h |
| 60 gốc | 2 béc/gốc | 120 béc | 120 L/h | 14.400 L/h | 14,40 m³/h |
Với khu có 48 gốc, phép tính là:
48 × 2 × 120 = 11.520 L/h = 11,52 m³/h
Nếu toàn vườn có nhiều hơn 48 gốc nhưng mỗi lần chỉ mở khu này, lưu lượng dùng để chọn bơm vẫn bắt đầu từ 11,52 m³/h. Khi mở hai khu cùng lúc, phải cộng số béc thực sự hoạt động của cả hai khu rồi tính lại.
Cách chia khu cũng tác động trực tiếp tới cỡ bơm và cỡ ống. Khu 60 gốc trong ví dụ cần 14,40 m³/h, cao hơn khu 36 gốc là 5,76 m³/h. Nếu đường ống giữ nguyên trong khi lưu lượng tăng, vận tốc nước và tổn thất ma sát cũng thay đổi; vì thế không thể đổi số gốc mà giữ nguyên toàn bộ kết quả cột áp.
Tính cột áp trước khi đối chiếu máy bơm tưới sầu riêng
Có 11,52 m³/h vẫn chưa đủ để chọn máy bơm tưới sầu riêng. Máy phải cấp được lưu lượng đó tại cột áp tổng của hệ thống, gồm áp suất cần tại béc, chênh cao địa hình và tổn thất qua ống, lọc, van cùng phụ kiện.
Cột áp tổng = cột áp tương đương áp suất béc + chênh cao + tổn thất hệ thống
Ví dụ xét nguồn nước hở; lấy mực nước nguồn làm mốc, điểm cần cấp là đầu béc. Giả sử áp suất béc đã được đổi thành 18 m cột nước, điểm tưới cao hơn mực nước nguồn 7 m và tổng tổn thất trên tuyến bất lợi nhất là 5 m. Ba thành phần phải cùng đơn vị mét cột nước trước khi cộng:
Cột áp tổng = 18 m + 7 m + 5 m = 30 m
Điểm cần tìm trên đường đặc tính lúc này là 11,52 m³/h ở 30 m. Đây là một cặp lưu lượng–cột áp xảy ra đồng thời, khác với việc đọc riêng lưu lượng tối đa và cột áp tối đa trên tem máy.
Tổn thất 5 m trong ví dụ chỉ là dữ kiện giả sử để minh họa phép cộng. Nếu nguồn cấp đã có áp hoặc điều kiện đầu vào khác nguồn nước hở, phải lập lại cột áp theo các điều kiện biên thực tế; không bê nguyên phép cộng này. Khi làm hệ thống thật, cần tính lại theo chiều dài ống, đường kính trong, vật liệu, số co, van, bộ lọc và lưu lượng chạy qua từng đoạn. Tuyến xa nhất chưa chắc là tuyến bất lợi nhất nếu một tuyến gần hơn có đường kính nhỏ hoặc nhiều phụ kiện hơn.
Bảng thu thập dữ liệu trước khi hỏi mã bơm nên có đủ các mục sau:
| Dữ liệu cần cung cấp | Giá trị trong ví dụ | Cách xác định khi làm thật |
|---|---|---|
| Khu lớn nhất chạy đồng thời | 48 gốc | Đếm số gốc sau cùng một van khu |
| Số béc mỗi gốc | 2 béc/gốc | Kiểm tra bố trí thực tế |
| Lưu lượng một béc | 120 L/h | Lấy tại áp suất làm việc hoặc đo thực |
| Lưu lượng khu tưới | 11,52 m³/h | Nhân số béc với lưu lượng béc |
| Áp suất cần tại béc | Tương đương 18 m | Lấy từ tài liệu đúng mã béc |
| Chênh cao | 7 m | Đo từ mực nước nguồn tới điểm tưới cao nhất |
| Tổn thất hệ thống | 5 m | Tính theo ống, lọc, van và phụ kiện |
| Điểm cần đối chiếu | 11,52 m³/h ở 30 m | Tra đường đặc tính của từng mã |
Nếu chưa biết tổn thất, nên gửi sơ đồ ống và danh sách phụ kiện để tính trước khi đặt máy. Chọn một mức cộng thêm cố định cho mọi vườn có thể che mất vấn đề chính: ống quá nhỏ, bộ lọc gây sụt áp hoặc tuyến có chênh cao lớn.
Đối chiếu máy bơm tưới sầu riêng tại điểm lưu lượng và cột áp
Sau khi có lưu lượng và cột áp, đối chiếu đường đặc tính của đúng model. Có thể xem danh mục bơm ly tâm trục ngang để tìm nhóm máy đang công bố trên web; danh mục không thay thế bảng Q–H của từng mã. Bài này chưa chọn một model cụ thể đạt điểm minh họa. Cách đối chiếu gồm ba thao tác:
- Tìm lưu lượng yêu cầu 11,52 m³/h trên đường đặc tính của từng model; nếu bảng không có điểm này, yêu cầu đường cong hoặc xác nhận kỹ thuật.
- Đọc cột áp của mã tại chính cột lưu lượng đó.
- Loại mã có cột áp dưới 30 m; với mã cao hơn nhiều, kiểm lại van, đường ống và vùng vận hành thay vì mặc định chọn máy lớn.
Không mặc định Qmax và Hmax xảy ra đồng thời để ghép thành một điểm vận hành. Một máy ghi lưu lượng tối đa cao hơn 11,52 m³/h và cột áp tối đa cao hơn 30 m vẫn có thể hụt áp tại đúng lưu lượng yêu cầu.
Trước khi mua, đề nghị bên bán xác nhận bằng văn bản model đáp ứng điểm làm việc yêu cầu, kèm đường đặc tính có nguồn gốc rõ ràng. Ví dụ 11,52 m³/h và 30 m trong bài chỉ minh họa quy trình tính; bài chưa có xác nhận một model cụ thể đạt điểm này.
Nếu nguồn là giếng, mực nước động và khả năng hồi nước còn quyết định loại bơm. Bơm trục ngang đặt trên bờ không được chọn chỉ vì phép tính lưu lượng phù hợp; chiều cao hút, độ kín ống hút và điều kiện mồi nước phải được kiểm tra riêng.
Bài chọn máy bơm theo lưu lượng và cột áp giải thích sâu hơn cách lập cột áp tổng và đọc đường đặc tính. Với bài toán sầu riêng, số gốc chỉ giúp tạo ra lưu lượng đầu vào; mã bơm cuối cùng vẫn phải qua bước đối chiếu Q–H.
Lưu lượng của khu tưới không phải nhu cầu nước theo ngày
Lưu lượng trong ví dụ là lượng nước chuyển qua hệ thống trong mỗi giờ vận hành của một khu tưới. Nó không cho biết nhu cầu nước sinh học của một gốc sầu riêng trong ngày; nhu cầu này thay đổi theo giai đoạn cây, đất, thời tiết và điều kiện thoát nước.
Để tính cho máy bơm, xác định số béc chạy đồng thời và lưu lượng của đúng loại béc tại áp suất làm việc. Nhân hai giá trị đó để có lưu lượng khu tưới, rồi tính cột áp tổng và đối chiếu điểm Q–H. Thể tích cấp mới phụ thuộc thời gian vận hành:
Thể tích cấp = lưu lượng khu tưới × thời gian vận hành
Nếu hệ thống chia khu, dùng khu lớn nhất chạy đồng thời thay vì nhân số béc của toàn vườn. Không dùng kết quả ví dụ làm định mức lít mỗi gốc hoặc lịch tưới chung.
Câu hỏi thường gặp về máy bơm tưới sầu riêng
Chọn máy bơm tưới sầu riêng thế nào khi đã có sẵn béc?
Hãy lấy số béc chạy đồng thời nhân lưu lượng của một béc tại áp suất làm việc. Sau đó cộng áp suất béc, chênh cao và tổn thất để tạo thành một điểm Q–H; sau đó yêu cầu xác nhận model, vùng vận hành và phương án hệ thống đáp ứng điểm yêu cầu đó.
Vì sao cùng số gốc sầu riêng nhưng hai vườn cần máy bơm khác nhau?
Hai vườn có thể khác số béc mỗi gốc, lưu lượng béc, số khu mở đồng thời, chênh cao và đường kính ống. Trong ví dụ, 48 gốc với 2 béc/gốc loại 120 L/h cần 11,52 m³/h, nhưng cột áp còn phụ thuộc tuyến ống và áp suất của đúng loại béc.
Có nên cộng thêm hệ số dự phòng?
Không nên mặc định cộng một tỷ lệ chung. Chỉ tính thêm phần có căn cứ, chẳng hạn tổn thất của lọc, van, phụ kiện hoặc phương án mở thêm khu đã xác định; sau đó đối chiếu điểm yêu cầu với đường đặc tính để tránh chọn máy dư quá xa và phải tiết lưu.
Với ví dụ 48 gốc, hãy gửi lưu lượng 11,52 m³/h, cột áp 30 m, loại nguồn nước, sơ đồ ống và điện nguồn qua liên hệ. Bên bán cần xác nhận bằng văn bản model đạt đúng điểm yêu cầu trước khi chốt máy. Các giá trị ví dụ không phải thông số bắt buộc cho mọi vườn.
