Đài Loan hay Ý cho bơm trục đứng không phải câu hỏi nên trả lời bằng tên quốc gia trước. Hai máy chỉ đáng so khi cùng kiểu kết cấu, cùng điểm lưu lượng – cột áp, đúng vật liệu, nguồn điện và điều kiện chất lỏng; nếu khác một trong các mục đó, chênh lệch xuất xứ chưa nói được máy nào hợp hệ thống hơn.
Trả lời ngắn: Cần cột áp trên 90 m thì chỉ có Perotac CDLF (Đài Loan, tới 289 m), vì trang mã Aquaris KQL (Ý) cao nhất 90 m. Ở nhóm inline tuần hoàn, IRG Đài Loan và KQL Ý có cặp mã cùng công suất, trang mã ghi cùng thân gang, trục và cánh inox 304; IRG có giá niêm yết, KQL báo giá theo liên hệ.
Trên web này, hàng Đài Loan là Perotac CDLF (đa tầng cánh) và IRG (inline một tầng), hàng Ý là Aquaris KQL (inline một tầng). Vùng làm việc của ba dòng theo dữ liệu trang mã:
| Nhu cầu | Đài Loan (Perotac) | Ý (Aquaris KQL) |
|---|---|---|
| Cột áp trên 90 m | CDLF, cột áp tới 289 m | Không có mã đạt (KQL cột áp tối đa 90 m) |
| Bảng lưu lượng – cột áp theo từng điểm trên web | CDLF: có, 8 nhóm | Chưa có, trang mã chỉ ghi lưu lượng và cột áp tối đa |
| Tuần hoàn lưu lượng lớn, cột áp vừa (inline) | IRG, 96 mã; số trên trang mã tới 292 m³/h và 83 m | KQL, 31 mã; số trên trang mã tới 220 m³/h và 90 m |
| Mức niêm yết | 39/45 mã CDLF và 43/96 mã IRG có giá công khai | KQL: liên hệ |
Ở dòng cột áp trên 90 m, câu hỏi "Đài Loan hay Ý" đã có đáp án từ dải thông số; ở vùng lưu lượng lớn, cột áp vừa thì hai xuất xứ cạnh tranh thật: bảng cặp IRG – KQL cùng công suất ở mục dưới đặt hai bên cạnh nhau.
Đài Loan hay Ý cho bơm trục đứng: bảng khoanh vùng trước khi hỏi giá
Bảng dưới đây dùng để khoanh vùng ngay khi nhận yêu cầu. Nó không chấm điểm quốc gia; nhiệm vụ của bảng là phát hiện hai phương án đang khác bài toán, tránh đặt một bơm đa tầng cánh cạnh một bơm inline rồi so giá, công suất hoặc nhãn xuất xứ.
| Câu cần khóa | Dữ liệu phải có | Nếu chưa có thì hậu quả |
|---|---|---|
| Hệ thống cần đa tầng cánh hay inline? | Sơ đồ đường ống, cách nối hút – xả và mục đích tăng áp hoặc tuần hoàn | Hai máy khác kết cấu bị đưa lên cùng bảng so sánh |
| Điểm làm việc là gì? | Lưu lượng yêu cầu và tổng cột áp tại đúng lưu lượng đó | Chọn được cột áp cực đại nhưng thiếu nước khi vận hành |
| Chất lỏng đi qua bơm là gì? | Tên chất lỏng, nhiệt độ, mức ăn mòn và cặn | Chọn sai vật liệu buồng, cánh, phớt hoặc gioăng |
| Điện cấp tại tủ ra sao? | Pha, điện áp, tần số và cách khởi động | Motor không khớp tủ hoặc bảo vệ điện cài sai |
| Không gian lắp có giới hạn gì? | Kích thước bệ, hướng ống, khoảng tháo motor và cụm tầng cánh | Đặt vừa bệ nhưng không còn đường bảo trì |
| Phụ tùng nào cần dự phòng? | Phớt, gioăng, ổ bi và chi tiết thủy lực theo đúng model | Có bơm nhưng thời gian dừng kéo dài khi chi tiết hao mòn |
| Hồ sơ nào phải giao cùng máy? | Model, tem motor, cấu hình vật liệu và chứng từ theo yêu cầu mua hàng | Nhận đúng nhãn nhưng không đủ căn cứ nghiệm thu cấu hình |
Với bơm đa tầng cánh, hãy bắt đầu từ danh mục bơm trục đứng. Hệ tuần hoàn cần lưu lượng lớn, cột áp vừa (vòng điều hòa, nước nóng) thì xem nhóm bơm trục đứng inline; hệ tăng áp cần cột áp cao với lưu lượng tới 55 m³/h thì xem CDLF. Cả hai kiểu đều có hút – xả thẳng hàng và lắp thẳng trên ống. Hai danh mục phục vụ hai nhiệm vụ thủy lực khác nhau; từ “trục đứng” trong tên không biến chúng thành sản phẩm thay thế trực tiếp.
Một yêu cầu ngắn kiểu “cần bơm Ý thay bơm Đài Loan” chưa đủ để chọn model. Cần hỏi tiếp lưu lượng, cột áp, chất lỏng, điện, kiểu nối ống và kích thước lắp; thiếu điểm Q–H thì mọi nhận xét về độ mạnh hay độ dư tải chỉ là phỏng đoán.
Một báo giá đáng so phải ghi đủ series, model, vật liệu phần tiếp xúc chất lỏng, dữ liệu motor và điểm làm việc đã chọn. Dòng mô tả “bơm trục đứng công nghiệp” không đủ để người vận hành biết cánh, buồng, phớt và nguồn điện có đúng với hệ thống hay không.
Đài Loan hay Ý cho bơm trục đứng phải cùng loại máy trước
Perotac CDLF là hướng xem xét khi hệ thống cần bơm trục đứng đa tầng cánh. Perotac (cả CDLF và IRG) là hàng nhập khẩu nguyên chiếc Đài Loan. CDLF có nhiều cỡ lưu lượng và nhiều số tầng, nên tên quốc gia không thay cho việc chọn cỡ thủy lực.
Aquaris KQL nằm trong nhóm bơm trục đứng inline và là hàng Nhập khẩu Ý (Italy). KQL không nên bị đặt cạnh CDLF chỉ vì cả hai cùng có trục motor theo phương đứng. Cấu trúc đường ống, nhiệm vụ hệ thống và đường đặc tính cần được kiểm trước khi đưa hai phương án vào cùng hồ sơ.
Cần kiểm kỹ khi máy cũ là đa tầng cánh CDLF mà phương án Ý được chào là KQL inline một tầng. Cả hai đều lắp thẳng trên tuyến ống; khác nhau ở số tầng cánh nên khác hẳn dải cột áp. Nếu hệ thống cần tạo cột áp qua nhiều tầng cánh, đổi sang một cấu trúc khác chỉ dựa vào xuất xứ có thể làm thay cả bệ, đường ống và chế độ điều khiển.
Chiều ngược lại cũng vậy. Một tuyến tuần hoàn vốn thiết kế cho thân bơm inline không tự nhiên phù hợp với cụm CDLF chỉ vì CDLF có vùng cột áp rộng. Họng hút – xả, bệ đỡ, tải lên đường ống và khoảng rút cụm bơm đều phải được đưa vào bản vẽ lắp.
Trước khi hỏi “Đài Loan hay Ý”, hãy phân loại yêu cầu theo ba nhánh:
- Cần cột áp cao (tới 289 m) với lưu lượng tới 55 m³/h: sàng lọc trong dòng CDLF.
- Tuần hoàn lưu lượng lớn, cột áp vừa: sàng lọc trong nhóm inline, rồi đặt cặp IRG – KQL cùng công suất cạnh nhau.
- Chưa xác định được cấu trúc: quay lại sơ đồ công nghệ, vị trí bể, tuyến ống và nhiệm vụ bơm; chưa nên hỏi model.
Việc phân nhánh này cũng giải thích tại sao công suất motor không thể đứng đầu phiếu chọn. Hai kết cấu khác nhau có thể dùng motor nghe có vẻ gần nhau nhưng tạo đường Q–H khác nhau. Motor chỉ cung cấp công suất cho phần thủy lực; nó không chứng minh bơm sẽ cho đúng lưu lượng tại cột áp của hệ thống.
Máy mang xuất xứ được đánh giá cao hơn vẫn có thể là lựa chọn kém hơn nếu sai kết cấu. Ngược lại, một model Đài Loan được khóa đúng điểm làm việc, đúng vật liệu và lắp vừa hệ thống có giá trị vận hành rõ hơn một model Ý chỉ được mô tả bằng thương hiệu.
Cặp IRG Đài Loan và KQL Ý cùng công suất: đặt cạnh nhau
Ở nhóm inline, web có mã Đài Loan và mã Ý ở cùng mức công suất motor, nên câu hỏi "Đài Loan hay Ý" so được bằng cặp mã cụ thể. Số trong bảng chép từ trang mã của từng mã.
| Công suất | Đài Loan: Perotac IRG | Ý: Aquaris KQL |
|---|---|---|
| 4 kW | IRG65-160/4: 30 m³/h, 34 m · 11.556.000 đ (đã gồm VAT) | 65KQL25-32-4/2: 30 m³/h, 36 m · liên hệ |
| 5,5 kW | IRG50-200/5.5: 12,5 m³/h, 50 m · 16.524.000 đ (đã gồm VAT) | 50KQL12.5-50-5.5/2: 18 m³/h, 54 m · liên hệ |
| 7,5 kW | IRG50-200/7.5: 25 m³/h, 50 m · 17.820.000 đ (đã gồm VAT) | 65KQL25-50-7.5/2: 32 m³/h, 54 m · liên hệ |
| 15 kW | IRG125-160/15: 138 m³/h, 24,5 m · 28.080.000 đ (đã gồm VAT) | 125KQL160-20-15/2: 200 m³/h, 24 m · liên hệ |
Hai hãng ghi cặp số trên trang mã theo hai kiểu khác nhau: tên mã KQL mang sẵn một cặp số (50KQL12.5-50: 12,5 và 50) trùng đúng cặp 12,5 m³/h và 50 m mà trang IRG50-200/5.5 ghi, còn trang mã KQL lại ghi cặp lớn hơn (18 m³/h, 54 m). Vì vậy bảng này dùng để ghép cặp cùng cỡ; muốn biết mã nào đạt điểm của hệ, yêu cầu cả hai bên gửi đường đặc tính của đúng mã và đánh dấu cùng một lưu lượng.
Vật liệu: cả 31 trang mã KQL và 43 trang mã IRG ghi cùng một cấu hình — thân bơm gang, trục và cánh inox 304, phớt cơ khí gốm/graphite. Các trang IRG có giá niêm yết chưa ghi vật liệu, nên khi đặt mã có giá hãy yêu cầu bên bán xác nhận vật liệu bằng văn bản. Ở cùng công suất, khác biệt đọc được ngay trên web là giá: IRG niêm yết công khai, KQL báo giá theo liên hệ. Xem đủ mã tại bơm inline Perotac IRG và bơm inline Aquaris KQL.
Bảng lưu lượng – cột áp Perotac CDLF để khóa vùng chọn
Dữ liệu dòng không thay đường cong từng model, nhưng đủ để loại những cỡ chắc chắn nằm ngoài nhu cầu. Bảng Q–H bơm trục đứng đa tầng cánh Perotac CDLF dưới đây cho biết vùng lưu lượng và cột áp cao nhất của từng cỡ đang có trên trang dòng.
| Cỡ dòng | Vùng lưu lượng | Cột áp tới | Các model trong cỡ |
|---|---|---|---|
| CDLF2 | 1–3,5 m³/h | 232 m | CDLF2-7, CDLF2-9, CDLF2-15, CDLF2-18, CDLF2-26 |
| CDLF4 | 1,5–7 m³/h | 183 m | CDLF4-8, CDLF4-12, CDLF4-16, CDLF4-19 |
| CDLF8 | 5–12 m³/h | 208 m | CDLF8-6, CDLF8-8, CDLF8-12, CDLF8-16, CDLF8-20 |
| CDLF12 | 7–16 m³/h | 192,5 m | CDLF12-6, CDLF12-8, CDLF12-12, CDLF12-16 |
| CDLF16 | 8–22 m³/h | 222 m | CDLF16-6, CDLF16-7, CDLF16-8, CDLF16-10, CDLF16-12, CDLF16-14, CDLF16-16 |
| CDLF20 | 10–28 m³/h | 234 m | CDLF20-4, CDLF20-6, CDLF20-10, CDLF20-14, CDLF20-17 |
| CDLF32 | 16–40 m³/h | 274 m | CDLF32-4, CDLF32-5, CDLF32-7, CDLF32-8, CDLF32-9, CDLF32-10, CDLF32-12, CDLF32-14, CDLF32-15 |
| CDLF42 | 25–55 m³/h | 289 m | CDLF42-6, CDLF42-8, CDLF42-10, CDLF42-12 |
Không được đọc cột “cột áp tới” thành cột áp mà mọi model đều tạo ra tại mọi lưu lượng. Cột áp của bơm thay đổi theo lưu lượng, số tầng cánh và đường đặc tính riêng. Sau khi tìm được cỡ dòng chứa lưu lượng yêu cầu, phải mở bảng Q–H và chọn model cho đúng cột áp tại chính lưu lượng đó.
Mép trên vùng lưu lượng công bố của CDLF16 là 22 m³/h. Khi nhu cầu lớn hơn mốc này, không nên giữ CDLF16 rồi tăng công suất motor theo cảm tính; cần chuyển vùng sàng lọc sang CDLF20, CDLF32 hoặc cỡ phù hợp khác.
Các dải có phần giao nhau là chủ ý hữu ích cho bước sàng lọc. Một nhu cầu nằm trong vùng giao có thể xuất hiện ở nhiều cỡ, nhưng quyết định cuối còn phụ thuộc hình dạng đường cong, hiệu suất, đường kính kết nối và điều kiện vận hành. Không chọn cỡ chỉ vì nhu cầu nằm sát mép phải của một dải.
Cột áp cao nhất cũng không phải mục tiêu phải lấy cho đủ. Nếu hệ thống cần cột áp thấp hơn, chọn model nhiều tầng hơn có thể đẩy áp lên đường ống và buộc van xả phải tiết lưu. Tiền mua thêm tầng cánh khi đó không tạo thêm lưu lượng hữu ích; nó tạo ra phần áp mà hệ thống phải triệt bớt.
Bảng còn giúp kiểm báo giá khác xuất xứ. Nếu bên chào bơm Ý chỉ đưa công suất mà không đưa đường Q–H, người mua chưa có dữ liệu để đặt cạnh CDLF. Hãy yêu cầu bên chào đánh dấu điểm vận hành trên đường cong của model Ý, rồi so cùng lưu lượng, cùng cột áp và cùng điều kiện chất lỏng.
Ví dụ tính: khóa cột áp rồi mới so bơm Đài Loan với bơm Ý
Giả sử một hệ cần cấp đầy bể 60 m³ trong 3 giờ, tương ứng lưu lượng 20 m³/h. Cao độ tĩnh từ mực nước hút đến điểm dùng bất lợi là 37 m, áp dư yêu cầu tại điểm dùng được quy đổi thành 19 m, còn tổn thất dự kiến trên ống và phụ kiện là 9 m.

Bảng lưu lượng – cột áp bơm trục đứng đa tầng cánh Perotac CDLF16 ở 50 Hz: cột áp H (m) của từng mã CDLF16-6 đến CDLF16-16 tại từng mức lưu lượng Q (m³/h).
H yêu cầu (m) = H tĩnh + H dư tại điểm dùng + H tổn thất
Thay số của ví dụ:
H yêu cầu = 37 + 19 + 9 = 65 m
Điểm sàng lọc là 20 m³/h tại 65 m. Đây mới là câu cần gửi cho người chọn bơm; câu “cần máy mạnh” hoặc “ưu tiên hàng Ý” không mang đủ dữ liệu thủy lực.
Đối chiếu bảng dòng, lưu lượng 20 m³/h nằm trong vùng CDLF16, CDLF20 và CDLF32. Đọc cột 20 m³/h của bảng: CDLF16-7 cho 68 m, dư 3 m; CDLF20-6 cho 70 m, dư 5 m; CDLF16-8 cho 77 m, dư 12 m. Hai mã đầu đều đạt và cùng mức niêm yết 24.948.000 đ (đã gồm VAT); chọn giữa hai mã bằng hiệu suất, họng nối và kích thước lắp.
Phía Aquaris KQL, web chưa có bảng lưu lượng – cột áp theo từng điểm. Các mã KQL nhỏ (lưu lượng tối đa tới 36 m³/h) có cột áp tối đa không quá 54 m nên chắc chắn không đạt 65 m; mã KQL lớn hơn thì phải có đường đặc tính do bên bán gửi, đánh dấu điểm 20 m³/h tại 65 m, rồi mới đặt cạnh CDLF16-7 hay CDLF20-6.
Nếu một báo giá Perotac ghi model nhưng không chỉ ra điểm trên đường cong, hãy yêu cầu bổ sung. Nếu báo giá Aquaris hoặc một phương án Ý khác chỉ ghi xuất xứ, công suất và đường kính ống, cũng phải yêu cầu bổ sung đúng dữ liệu Q–H. Chỉ sau khi hai bên đều đáp ứng 20 m³/h tại 65 m mới chuyển sang so vật liệu, điện, kích thước và phụ tùng.
Ví dụ này là bước sàng lọc, chưa phải phép chọn cuối. Thể tích bể 60 m³, thời gian cấp 3 giờ và tổn thất 9 m đang là dữ liệu giả định của đề; ở công trình thật, chúng phải được xác định từ nhu cầu sử dụng, chiều dài ống, đường kính, phụ kiện và lưu lượng. Cao độ 37 m cũng phải lấy từ mực nước vận hành bất lợi, không lấy tùy tiện từ nền đặt bơm.
Cần kiểm thêm phía hút. Tổng cột áp bên xả đúng chưa bảo đảm bơm sẽ hút ổn nếu đường hút lọt khí, van một chiều kẹt hoặc mực nước xuống thấp. Một bơm được chọn đúng điểm Q–H vẫn có thể rung, mất nước hoặc hỏng phớt khi điều kiện hút không đáp ứng.
Điều thứ hai dễ hiểu sai: model có cột áp cực đại cao hơn chưa chắc gần điểm 20 m³/h tại 65 m hơn. Cột áp cực đại thường nằm ở vùng lưu lượng khác; người chọn phải đọc đường cong tại lưu lượng yêu cầu, không lấy con số lớn nhất trên bảng làm căn cứ thắng – thua.
Vật liệu phải đọc theo model, không đọc theo quốc kỳ
Xuất xứ không tự động quyết định mác inox, vật liệu cánh, buồng bơm, trục, phớt hay gioăng. Cùng một nhóm bơm trục đứng trên thị trường có thể có các biến thể vật liệu khác nhau theo series và model. Vì vậy, câu “hàng Ý chắc chắn inox tốt hơn” hoặc “hàng Đài Loan đều cùng một loại inox” không đủ căn cứ để đưa vào biên bản chọn máy. Trên web, trang mã KQL và phần lớn trang mã IRG ghi cùng thân gang, trục và cánh inox 304; trang dòng CDLF ghi phần thủy lực inox AISI 304, đế gang.
Phiếu yêu cầu nên tách vật liệu thành từng bộ phận:
| Bộ phận | Dữ liệu cần ghi | Rủi ro nếu chỉ ghi “bơm inox” |
|---|---|---|
| Buồng bơm | Vật liệu và cấp vật liệu theo model | Vỏ ngoài giống nhau nhưng phần tiếp xúc chất lỏng khác nhau |
| Cánh bơm | Vật liệu, kiểu cánh và cấu hình theo series | Không đánh giá được khả năng làm việc với chất lỏng |
| Trục | Vật liệu trục và vùng tiếp xúc | Khó kiểm tương thích ăn mòn và độ bền cụm quay |
| Phớt cơ khí | Vật liệu hai mặt phớt và gioăng | Dễ rò khi nhiệt độ hoặc hóa chất không phù hợp |
| Đế và đầu bơm | Vật liệu cùng kiểu kết nối | Có thể sai mặt bích, tải đường ống hoặc môi trường lắp |
Với nước sạch thông thường, yêu cầu vật liệu vẫn phải ghi rõ để hai báo giá cùng mặt bằng. Với nước có hóa chất, nhiệt độ cao hoặc độ dẫn điện khác thường, tên chất lỏng và điều kiện vận hành phải được gửi cho bên chọn phớt; không suy tương thích chỉ từ vẻ ngoài sáng của thân bơm.
Hồ sơ mua hàng ghi vật liệu cho thân mà bỏ trống phớt thì lỗi không lộ ra lúc chạy thử bằng nước sạch. Khi đưa chất lỏng công nghệ vào, gioăng trương nở hoặc mặt phớt không tương thích có thể gây rò, kéo theo dừng bơm và vệ sinh khu vực.
Bơm cũ cũng cần được đọc lại đúng cấu hình. Không nên lấy vật liệu của model cũ làm mặc định cho model thay thế nếu chất lỏng hoặc nhiệt độ vận hành đã đổi. Người khảo sát cần ghi lại tem, vật liệu đã dùng, dạng hư hỏng và vị trí ăn mòn trước khi đề xuất máy mới.
Khi so Đài Loan với Ý, hãy yêu cầu mỗi bên điền chung một bảng bộ phận. Ô nào chưa xác định thì để trạng thái “cần xác nhận”, không tự suy từ quốc gia. Cách này ít hấp dẫn hơn câu quảng cáo về xuất xứ nhưng ngăn được lỗi mua đúng thương hiệu, sai phớt.
Phiếu so báo giá Đài Loan và Ý: gửi cùng một mẫu cho mọi bên chào
Hai báo giá chỉ so được khi cùng trả lời một bộ câu hỏi. Gửi mẫu dưới đây cho cả bên chào Perotac lẫn bên chào Aquaris, ô nào bên chào để trống thì coi là chưa đạt:
| Trường so sánh | Phương án Đài Loan | Phương án Ý |
|---|---|---|
| Kiểu bơm | Đa tầng cánh hay inline | Đa tầng cánh hay inline |
| Series và model | Ghi đủ ký hiệu | Ghi đủ ký hiệu |
| Điểm Q–H được chọn | Đánh dấu trên đường cong | Đánh dấu trên đường cong |
| Vật liệu phần ướt | Ghi theo từng bộ phận | Ghi theo từng bộ phận |
| Motor | Chép từ dữ liệu model | Chép từ dữ liệu model |
| Kích thước lắp | Bản vẽ đúng model | Bản vẽ đúng model |
| Phụ tùng cần dự phòng | Mã và phạm vi thay thế | Mã và phạm vi thay thế |
| Hồ sơ giao hàng | Liệt kê theo yêu cầu đơn | Liệt kê theo yêu cầu đơn |
Nếu bên bán chỉ nói “công suất tương đương” mà không đánh dấu điểm làm việc, chưa thể xác nhận tương đương. Hồ sơ xuất xứ, bảo hành và điều kiện giao hàng phải được bên bán xác nhận bằng văn bản theo từng đơn, không suy từ tên hãng.
Câu hỏi thường gặp khi so bơm trục đứng
Nên chọn mua máy bơm trục đứng thương hiệu nào?
Chọn thương hiệu sau khi đã khóa loại bơm, điểm Q–H, vật liệu và nguồn điện. Perotac CDLF phù hợp để sàng lọc cho bài toán đa tầng cánh; Aquaris KQL thuộc nhóm inline nên chỉ so trực tiếp với phương án có cùng nhiệm vụ và kết cấu.
Thương hiệu trả lời câu hỏi “ai cung cấp sản phẩm”, nhưng không tự trả lời “model này có chạy đúng hệ thống không”. Phiếu kỹ thuật và đường cong của đúng model mới là căn cứ chọn.
Cần cột áp trên 90 m thì có bơm trục đứng Ý không?
Trên web thì không: trang mã Aquaris KQL cao nhất 90 m, nên điểm làm việc trên 90 m chỉ có Perotac CDLF (cột áp tới 289 m, lưu lượng tới 55 m³/h). Chọn mã CDLF theo đúng cột lưu lượng của bảng lưu lượng – cột áp Perotac CDLF.
Bơm trục đứng Ý có bền hơn hàng Đài Loan không?
Web không có dữ liệu để xếp hạng độ bền theo xuất xứ. Dữ liệu có được là vật liệu: trang mã KQL (Ý) và 43 trang mã IRG (Đài Loan) ghi cùng thân gang, trục và cánh inox 304, phớt gốm/graphite. Tuổi thọ phụ thuộc điểm làm việc có nằm giữa đường cong không, chất lỏng và điều kiện hút, nhiều hơn là tên nước.
Bơm trục đứng Ý trên web có giá niêm yết không?
Chưa: cả 31 mã Aquaris KQL báo giá theo liên hệ. Phía Đài Loan, 39/45 mã CDLF và 43/96 mã IRG có giá công khai, ví dụ IRG50-200/5.5 16.524.000 đ (đã gồm VAT). Muốn so giá cặp cùng công suất, gửi mã IRG đang xem kèm yêu cầu báo giá mã KQL tương ứng.
Bơm trục đứng Đài Loan có thay được bơm Ý đang chạy không?
Thay được khi hai máy cùng kiểu kết cấu (đa tầng cánh thay đa tầng cánh, inline thay inline), cùng đạt lưu lượng tại cột áp của hệ, cùng kích thước lắp và vật liệu phần ướt hợp với chất lỏng. Máy cũ là inline mà máy mới là đa tầng cánh thì phải tính lại bệ, đường ống và điều khiển.
Hãy gửi ảnh tem máy cũ cùng lưu lượng, cột áp đang cần: máy cũ là inline thì đối chiếu với bơm inline Perotac IRG, máy cũ đa tầng cánh thì đối chiếu với bảng lưu lượng – cột áp Perotac CDLF.
Xuất xứ chỉ có giá trị khi gắn với đúng model và hồ sơ cụ thể. Cách kiểm hãng và hồ sơ khi chọn nằm ở bài đánh giá bơm trục đứng Đài Loan bằng hồ sơ và Q–H; bơm đã lắp mà thiếu nước thì xem bài bơm trục đứng nhập khẩu Đài Loan: đủ áp vẫn có thể chọn sai. Hãy gửi lưu lượng, cột áp, chất lỏng, nguồn điện, sơ đồ ống và giới hạn lắp đặt qua liên hệ; đội kỹ thuật sẽ khoanh vùng cấu hình và đề xuất cặp mã Đài Loan – Ý cùng cỡ.